Thứ Sáu, 3/4/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số khó khăn trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và phương hướng hoàn thiện

Đối với công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính (XLHC) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được điều chỉnh ở một số văn bản như: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP,… Tuy nhiên, trong quá trình lập hồ sơ đưa người nghiện áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như sau:

+ Thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy.

Theo quy định của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc được áp dụng với “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện”. Tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định, việc áp dụng biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn với “đối tượng nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cơ trú ổn định”. Nhưng, để xác định tình trạng nghiện ma túy thì bác sĩ, y sĩ bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề và chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh - Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức hoặc các viện, bệnh viện, các cơ sở đào tạo bồi dưỡng có đủ điều kiện thực hiện tập huấn và cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận được Bộ Y tế giao. Vấn đề này được quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09/07/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy. Tuy nhiên, tại một số tỉnh, Trạm trưởng y tế của xã, phường, thị trấn cũng chưa có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma tuý do Sở Y tế cấp theo quy định của Luật Khám chữa bệnh. Vì vậy, để xác định tình trạng nghiện ma túy, tại một số địa phương, đặc biệt các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, không có người đủ thẩm quyền, cũng như có chứng chỉ để ký xác định tình trạng nghiện ma túy của người nghiện.

+ Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại Điều 11, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP quy định về việc thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có nội dung: “Cơ quan lập hồ sơ thông báo bằng văn bản về việc lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ”, “Thời gian đọc hồ sơ: Thời gian đọc hồ sơ là 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo”. Đây là quy định không phù hợp bởi thực tế vì tâm lý đối với người nghiện ma túy khi biết bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thường sẽ có tâm lý muốn trốn tránh, thậm chí đi khỏi địa phương. Bởi vì người nghiện ma túy là những người có vấn đề về rối loạn chức năng não bộ, bị lệ thuộc vào chất gây nghiện, luôn có ý thức chống đối việc bị lập hồ sơ đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+ Quy trình làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 221/2013/NĐ-CP về quá trình làm thủ tục đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với hồ sơ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ phải gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý và Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra trong 5 ngày làm việc, sau đó hồ sơ được chuyển cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đối chiếu hồ sơ đề nghị và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp huyện trong 07 ngày. Như vậy, cả quá trình lập hồ sơ đưa người nghiện đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tốn rất nhiều thời gian, nhiều khâu, thủ tục, trong khi đó người nghiện có thể tự ý đi khỏi địa phương trước khi Tòa án nhân dân huyện ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quá trình lập hồ sơ phải trải qua các bước như sau:

1, Thời gian lập, thu thập tài liệu lập hồ sơ.

2, Thời gian xác định tình trạng nghiện do Cơ quan y tế có thẩm quyền xác định.

3, Thời gian để người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đọc hồ sơ: 5 ngày.

4, Thời gian Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ: 5 ngày làm việc.

5, Thời gian Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội kiểm tra hồ sơ: 7 ngày.

6, Thời gian Tòa án nhân dân cấp huyện ra quyết định.

Như vậy, thực tiễn hiện nay, thời gian lập hồ sơ đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện phải từ 01 đến 02 tháng, đây là thời gian quá dài, ảnh hưởng tới hiệu quả của biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+ Quy định bất cập về việc áp dụng đồng thời biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn (biện pháp tiền đề trước khi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) và biện pháp điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế.

Theo quy định tại Điểm G, Khoản 5, Điều 18 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn và Nghị định 56/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 111/2013/NĐ-CP: Có nội dung “tùy vào thực tiễn của địa phương, người nghiện ma túy phải lựa chọn hình thức cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc cộng đồng theo quy định của Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng hoặc tham gia chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Nghị định số 96/2012/NĐ-CP, ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Người nghiện ma túy phải cam kết về việc tự nguyện cai nghiện, điều trị nghiện”.

Như vậy, người nghiện ma túy phải tham gia đồng thời hai biện pháp: Biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phương, thị trấn và biện pháp cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng hoặc tham gia chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tuy nhiên, thời gian chấp hành biện pháp XLHC giáo dục tại xã phường thị trấn và biện pháp điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế có sự khác nhau về thời gian và cách áp dụng. Cụ thể:

Theo Khoản 4, Điều 4 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP thì thời gian áp dụng biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 03 đến 06 tháng. Theo Khoản 16, Điều 1 Nghị định 56/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 111/2013/NĐ-CP thì đối với người nghiện đã chấp hành ít nhất ½ thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm thì chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn sẽ ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy, với căn cứ như trên một số Công an địa phương sẽ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 3 đến 6 tháng, nếu sau ½ thời gian (có thể là 3 tháng) người nghiện tiếp tục sử dụng các chất ma túy thì có thể tiến hành lập hồ sơ đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 của Nghị định số 90/2016/NĐ-CP thì “Không lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện” và Điểm B, Khoản 2, Điều 10 Nghị định số 90/2016/NĐ-CP thì người đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế sẽ bị chấm dứt điều trị khi “có xét nghiệm dương tính với các chất dạng thuốc phiện liên tiếp từ 02 lần trở lên trong vòng 12 tháng sau khi đã đạt liều điều trị duy trì”.

Như vậy chúng ta thấy rằng, thời gian chấp hành biện pháp điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo Nghị định số 90/2016/NĐ-CP là 12 tháng, dài hơn thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là từ 3 đến 6 tháng. Bên cạnh đó, mỗi cơ quan Công an, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, Tòa Án ở cấp huyện sẽ hiểu một cách khác nhau, gây khó khăn trong quá trình lập hồ sơ đưa người nghiện đi cai nghiện ma túy.

Trên cơ sở phân tích những khó khăn, vướng mắc về quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện, tác giả xin đề xuất một số giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong quá trình đưa người nghiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

Thứ nhất, để xác định tình trạng nghiện ma túy thì bác sĩ, y sĩ bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề và chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh - Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức hoặc các viện, bệnh viện, các cơ sở đào tạo bồi dưỡng có đủ điều kiện thực hiện tập huấn và cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận được Bộ Y tế giao. Tuy nhiên, tại một số tỉnh, Trạm trưởng y tế tại xã, phường, thị trấn cũng chưa có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma tuý do Sở Y tế cấp theo quy định của Luật Khám chữa bệnh. Vì vậy, Sở Y tế các tỉnh, thành phố cần quan tâm mở các lớp tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy cho toàn bộ các Trạm trưởng trạm y tế xã, phường, thị trấn, các y sĩ, bác sĩ để quá trình xác định tình trạng nghiện của người nghiện ma túy được thuận lợi.

Thứ hai, quy định được đọc, ghi chép, sao chụp hồ sơ và phát biểu ý kiến về việc lập hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian đọc là 05 ngày kể từ ngày được thông báo, đây là quy định thể hiện quyền của người bị lập hồ sơ, cũng như thể hiện tính công khai, minh bạch của quá trình lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, phần lớn người bị lập hồ sơ là những người nghiện ma túy, bị lệ thuộc ma túy, có tâm lý trốn tránh, có thể đi khỏi địa phương khi được thông báo lập hồ sơ áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, cần sửa đổi Khoản 2, Điều 14 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng vi phạm quy định về thi hành các biện pháp XLHC, theo hướng tăng nặng chế tài xử lý đối với các đối tượng cố tình đi khỏi địa phương trong quá trình bị lập hồ sơ hoặc sau khi thông báo lập hồ sơ.

Thứ ba, quá trình lập hồ sơ đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện trải qua nhiều bước, nhiều khâu, thời gian lập hồ sơ dài. Vì vậy, cần đơn giản thủ tục, sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP theo hướng: Thời gian đọc hồ sơ của người bị đề nghị lập hồ sơ: 2 ngày làm việc, thời gian Trưởng phòng Tư pháp kiểm tra tính pháp lý: 2 ngày, Thời gian Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội kiểm tra đối chiếu hồ sơ: 3 ngày. Bên cạnh đó Tòa án nhân dân cũng cần khẩn trương ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hay không áp dụng.

Thứ tư, hiện nay, trong quá trình đưa người nghiện đi cơ sở cai nghiện bắt buộc, có tình trạng người nghiện đã chấp hành xong biện pháp XLHC giáo dục tại xã phường, thị trấn (thời gian  từ 3 tháng đến 6 tháng) nhưng chưa chấp hành xong biện pháp điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (thời gian 12 tháng). Để khắc phục tình trạng nêu trên, Chính phủ cần sửa đổi bổ sung Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn và Nghị định số 90/2016/NĐ-CP quy định về điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo hướng thời hạn áp dụng biện pháp tương đương nhau từ 03 đến 06 tháng. Để các văn bản pháp lý về có tính đồng bộ, tránh trùng lặp, chồng chéo như phân tích ở trên.

Đặng Thanh Tân

Khoa QLNN về TTATXH - Học viện CSND

 

Tài liệu tham khảo

1. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

2. Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

3. Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

4. Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

5. Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

6. Nghị định số 90/2016/NĐ-Cp của Chính phủ ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác