Thứ Tư, 20/11/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số kinh nghiệm kiểm soát ô nhiễm không khí trên thế giới và giải pháp cho Việt Nam

Nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí là do các hoạt động công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, do sinh hoạt, tiêu dùng của con người… Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cứ 10 người thì có 9 người trên thế giới đang phải hít không khí ô nhiễm ở mức cao, hai khu vực ảnh hưởng nặng nề nhất là châu Phi và châu Á.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã sớm nhận thức được vấn đề này và đã đưa ra nhiều nghiên cứu cũng như tiến hành thực hiện thành công các giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí điển hình tại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Hàn Quốc…

- Anh: Chính phủ Anh luôn đặc biệt quan tâm đến việc kiểm soát ô nhiễm không khí. Thậm chí, trong các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội như: Luật Môi trường năm 1995, Chiến lược quốc gia về không khí lần đầu tiên vào năm 1997, nội dung môi trường luôn được đưa vào. Chính phủ Anh đã yêu cầu chính quyền các địa phương đánh giá chất lượng không khí trong khu vực. Nếu địa phương nào không đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường thì sẽ phải có kế hoạch cụ thể trên các lĩnh vực để khắc phục và làm giảm tình trạng ô nhiễm. Ngoài ra, Chính phủ đã có cơ chế khuyến các doanh nghiệp và cá nhân đóng góp các sáng kiến và công nghệ giảm phát thải khí nhà kính. Đây là một chính sách tích cực được cộng đồng Anh hưởng ứng và đem lại kết quả cao trong quản lý chất lượng không khí.

- Mỹ: Mỹ là một trong những quốc gia ý thức vấn đề kiểm soát ô nhiễm từ rất sớm. Mỹ đã hình thành hệ thống chính sách pháp luật tương đối đầy đủ và chặt chẽ về vấn đề này. Trong đó, có thể kể đến Luật về ô nhiễm không khí Bang California vào năm 1947, việc thành lập Cơ quan BVMT Mỹ, Luật Không khí sạch năm 1970… Hành lang pháp lý này đã giúp quản lý hiệu quả hơn hoạt động của tất cả các lĩnh vực, cơ quan, ban, ngành nhằm cải thiện tổng thể các mục tiêu về chăm sóc sức khỏe con người và phúc lợi xã hội.

- Hàn Quốc: Hàn Quốc cũng ban hành một loạt văn bản pháp lý liên quan đến bảo vệ môi trường và kiểm soát không khí như: Luật Bảo vệ không khí sạch, Luật Kiểm soát tiếng ồn và độ rung, Luật Cải thiện chất lượng không khí tại các đô thị, Luật Ngăn ngừa mùi hôi, Luật đặc biệt về cải thiện chất lượng không khí đô thị tại Se-un năm 2013… Trên cơ sở đó, các giải pháp đặc biệt cải thiện chất lượng không khí đô thị được thực thi: Tập trung ưu tiên các khu vực bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng trong đô thị; đưa ra hạn ngạch phát thải cho từng lĩnh vực và tổng lượng phát thải của từng khu vực… Các nguyên tắc quản lý khí thải cũng được mở rộng trong lĩnh vực giao thông.

Việt Nam là quốc gia đang phát triển với chỉ số tăng trưởng cao. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa cùng với các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội chưa được quản lý và kiểm soát tốt cũng đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường không khí. Số lượng đô thị tăng nhanh chóng kèm với gia tăng nhanh dân số đô thị trong khi cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề ô nhiễm không khí ở các đô thị. Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng, cải tạo và xây mới các công trình xây dựng, số lượng phương tiện giao thông gia tăng mạnh mẽ các năm qua… cũng làm tình trạng ô nhiễm không khí trở nên trầm trọng hơn tại các khu vực này. Ngoài ra, các nguồn ô nhiễm không khí xuất phát từ hoạt động sản xuất công nghiệp phân bố quanh khu vực sản xuất và có nồng độ các chất độc hại cao. Nguyên nhân ô nhiễm chủ yếu từ các ngành được lý giải do công nghệ sản xuất chưa được cải tiến đáng kể, hiệu suất sử dụng năng lượng và tài nguyên chưa cao, đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp chưa được chú trọng và các chế tài quản lý đối với vấn đề ô nhiễm môi trường không khí chưa hiệu quả. Nồng độ các thông số bụi, nhất là bụi mịn có xu hướng duy trì ở ngưỡng cao, đặc biệt tại các trục giao thông và tuyến đường chính ở các đô thị lớn. Nhìn chung, tình hình ô nhiễm không khí tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người.

Những năm gần đây, Việt Nam đã bắt đầu có những hành động cụ thể, thể hiện quyết tâm bảo vệ môi trường nói chung, làm giảm tác động do ô nhiễm không khí nói riêng. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm và điều kiện cơ sở vật chất cho việc kiểm soát ô nhiễm không khí. Đồng thời, nâng cấp, cải thiện hệ thống kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm soát không khí như xây dựng hệ thống tiêu chuẩn không khí, tiêu chuẩn của khí thải… một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành làm cơ sở cho việc quản lý môi trường không khí như: Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010, Quyết định về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường năm 2006 của Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ, Nghị định 81/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014…

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tăng cường hợp tác quốc tế nhằm kiểm soát vấn đề trên thông qua việc tham gia các Công ước Vienna 1985, Nghị định thư Montreal, Nghị định thư Kyoto…

Theo định kỳ, các hoạt động trắc quan và đánh giá hiện trạng môi trường không khí của các cơ quan nhà nước vẫn được thưc hiện, theo dõi. Ngoài ra, Chính phủ thường xuyên triển khai các kế hoạch Chiến lược về đánh giá môi trường, tác động môi trường nhằm dự báo, đề ra phương hướng, giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề môi trường trong đó có ô nhiễm không khí.

Tuy nhiên, thực tế việc thực thi pháp luật còn khá lỏng lẻo, mang tính hình thức, chưa nghiêm túc, cho nên hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, một số tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường chưa nghiêm túc trong việc kịp thời khắc phục các sự cố môi trường. Hơn nữa, ô nhiễm không khí có đặc thù khuyến tán rộng, nên rất khó xác định trách nhiệm, phạm vi xử lý…

Ô nhiễm không khí từ khí thải công nghiệp

Từ kinh nghiệm của các nước, có thể thấy rõ vai trò quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương là rất quan trọng, đặc biệt là hệ thống pháp luật luôn được nhấn mạnh và đề cao. Vì vậy, trong thời gian sớm nhất, Việt Nam cần quyết tâm thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí nhất là tại các thành phố lớn như hiện nay bằng các giải pháp cụ thể như:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không khí. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh tăng cường pháp chế về bảo vệ môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng. Các văn bản pháp luật cần quy định rõ hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường không khí của các cơ quan, tổ chức cá nhân. Đặc biệt, cần có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để răn đe và đề cao tính thượng tôn pháp luật liên quan đến lĩnh vực này. Bổ sung, cập nhật các quy định mới, bộ luật mới phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, kịp thời giải quyết những vấn đề mới phát sinh. Bên cạnh đó, cần phải công khai minh bạch các chính sách mới được sửa đổi, bổ sung để phù hợp tình hình thực tiễn.

Hai là, chú trọng thực hiện các biện pháp khoa học kỹ thuật để kiểm soát ô nhiễm không khí như: Xây dựng các trạm quan trắc hiện đại hơn, trang bị những thiết bị xử lý số liệu môi trường tự động, ứng dụng công nghệ thông tin… Tiếp tục thiết lập thêm các hệ thống quan trắc tại các điểm tập trung đông người trên địa bàn. Trên cơ sở thông tin thu được, cần xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, di rời các nhà máy gây ô nhiễm ra khỏi khu đông dân cư, thậm chí xóa bỏ nếu cần thiết.

Ba là, lực lượng chức năng, trong đó có lực lượng Công an cần tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật môi trường của các cơ quan, doanh nghiệp có liên quan, kịp thời phát hiện những hành vi cố tình vi phạm quy định về bảo vệ môi trường.

Bốn là, lực lượng Cảnh sát môi trường cần tăng cường công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình địa bàn quản lý, kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đặc biệt là tác nhân gây ra ô nhiễm không khí để kịp thời tham mưu, đề xuất, có biện pháp xử lý nghiêm khắc, triệt để các hành vi vi phạm.

Năm là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cá nhân, tổ chức về bảo vệ môi trường không khí thông qua truyền thông, báo chí và đưa vào các chương trình học ngay từ trình độ mẫu giáo.

Sáu là, trong hoạt động, giao thông vận tải, cải tạo, phát tiển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị, trong đó ưu tiên nâng cấp hệ thống giao thông công cộng nhằm giảm bớt số lượng phương tiện cá nhân. Khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch cho phương tiện giao thông. Lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra thường xuyên, không cấp giấy phép lưu hành đối với các phương tiện giao thông quá niên hạn.

Bảy là, đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí với các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt các nước phát triển, có nhiều kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề này. Cần thiết phải cập nhật, xây dựng hệ thống pháp luật về môi trường đồng bộ, phù hợp với các điều ước quốc tế đã ký kết và tham gia.

Quản lý chất lượng không khí là một hoạt động mang tính liên tục, lâu dài cần áp dụng tổng hợp, đồng bộ nhiều biên pháp và phải có sự tham gia vào cuộc của cả xã hội. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ, mỗi người dân hãy thay đổi nhận thức của chính mình và gia đình, người thân xung quanh mình trong việc bảo vệ môi trường không khí bằng những hành động cụ thể, thiết thực như: Không sử dụng túi ni-lon, tham gia vận tải công cộng, phân loại rác thải sinh hoạt, trồng cây xanh, tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường…

Chắc chắn, với tư duy tích cực và tinh thần đồng sức đồng lòng bảo vệ môi trường, Việt Nam sẽ kiểm soát thành công tình trạng ô nhiễm không khí, tiến tới một quốc gia đáng sống “xanh - sạch - đẹp”.

Đặng Thị Hồng Nhung

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2014), Luật môi trường, Nxb Sự thật;

2. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật môi trường;

3. Jonathan Shaw (2007), Chiến lược chất lượng không khí cho Anh, Scotland, Wales và Bắc Ireland.


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác