Thứ Năm, 19/9/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số bất cập của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Từ khi Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực, theo báo cáo của Bộ Công an, đã có 48.358.808 người nước ngoài đến Việt Nam từ 230 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Có thể nói, kể từ khi Luật số 47 có hiệu lực đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài đến Việt Nam năm trước đều cao hơn so với năm sau. Nếu như năm 2015 đã có 7.829.110 lượt (tăng 9,9% so với năm 2014) thì đến năm 2018 lượng người nước ngoài đến Việt Nam đạt con số 16.155.352 người (tăng gấp đôi năm 2015). Số lượng người nước ngoài nhập cảnh chủ yếu qua các cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu đường biển. Người nước ngoài đến Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau, chủ yếu là du lịch, lao động, thăm thân.

Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức triển khai thực hiện Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, bên cạnh những kết quả đã đạt được, các quy định trong Luật cũng đã bộc lộ một số bất cập sau:

Thứ nhất, quy định về thị thực điện tử

Ngày 14/10/2015, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP về chủ trương xây dựng Chính phủ điện tử, trong đó giao cho Bộ Công an phối hợp với Bộ Ngoại giao nghiên cứu xây dựng đề án cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nước ngoài vào Việt Nam du lịch, tìm hiểu cơ hội đầu tư… Bên cạnh đó, Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam (Nghị quyết số 30/2016/QH14) và ban hành Nghị định số 07/2017/NĐ-CP ngày 25/01/2017 quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam. Từ ngày 01/02/2017 đến ngày 31/12/2018, Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an đã cấp 422.928 thị thực điện tử cho người nước ngoài. Với những kết quả tích cực đạt được qua 02 năm triển khai thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV đã quyết định kéo dài thời gian thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam theo Nghị quyết số 30/2016/QH14 trong thời gian tối đa là 02 năm kể từ ngày 01/02/2019.

Nhưng việc cấp thị thực điện tử chưa được đề cập trong Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật chỉ quy định thị thực được cấp vào hộ chiếu hoặc cấp rời (Khoản 3, Điều 7), chưa quy định về thị thực điện tử. Ngoài ra, Luật chưa quy định cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực ở trong nước được cấp thị thực cho người nước ngoài đang ở nước ngoài. Mặt khác, đối tượng được cấp thị thực điện tử trong thời gian qua chủ yếu là người nước ngoài chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước mời, bảo lãnh, trong khi đó theo quy định tại Điều 10 của Luật khi quy định về điều kiện cấp thị thực bắt buộc phải có đề nghị cấp thị thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mời, bảo lãnh.

Thứ hai, cấp thị thực cho người nước ngoài quá cảnh vào tham quan du lịch

Mặc dù theo quy định tại Điều 25, Điều 26 của Luật, trong thời gian quá cảnh, người nước ngoài có nhu cầu vào Việt Nam tham quan, du lịch theo chương trình do doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Việt Nam tổ chức được xét cấp thị thực phù hợp với thời gian quá cảnh. Thực tế cho thấy, đối với khách du lịch tàu biển, thời gian đầu thực hiện cấp thị thực theo quy định của Luật, một số doanh nghiệp lữ hành đón khách du lịch tàu biển phản ánh việc ùn tắc, chậm trễ, mất nhiều thời gian do không thể đăng ký cấp thị thực theo đoàn mà phải đăng ký từng người theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 của Luật thì “Thị thực được cấp riêng cho từng người...”, “Thị thực được cấp vào hộ chiếu hoặc cấp rời”. Do đó, du khách phải khai tờ khai riêng và thực hiện việc cấp thị thực cho từng khách, trong khi mỗi tàu du lịch có số lượng khách lớn (có thể đến 6.000 khách), thời gian cập cảng thường rất ngắn (dưới 24 tiếng) nên đã ảnh hưởng đến việc đón khách của doanh nghiệp và công tác cấp thị thực của đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc Bộ Quốc phòng tại cửa khẩu, cảng biển.

Thứ ba, đơn phương miễn thị thực

Tại Khoản 1, Điều 20 của Luật quy định: “Người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì hộ chiếu phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 06 tháng và phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày”. Việc quy định điều kiện “phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày” nhằm hạn chế tình trạng người nước ngoài lợi dụng chính sách miễn thị thực đơn phương, nhập cảnh liên tiếp để vào Việt Nam làm việc, lao động… Tuy nhiên, sau khi triển khai áp dụng, tại các Diễn đàn doanh nghiệp, Diễn đàn du lịch, Hội nghị đối thoại doanh nghiệp, nhiều ý kiến cho rằng quy định trên đã gây vướng mắc đối với số khách nhập cảnh Việt Nam du lịch sau đó sang nước thứ ba rồi quay lại Việt Nam tiếp tục du lịch.

Mặt khác, tại Khoản 3, Điều 12 của Luật quy định, người nước ngoài “Vào khu kinh tế cửa khẩu, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” được miễn thị thực với thời hạn tạm trú 15 ngày, vào đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được miễn thị thực với thời hạn tạm trú 30 ngày, song quy định này chưa được triển khai trên thực tế do chưa có đơn vị nào được xác định là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, thực hiện Quyết định số 80/2013/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ quyết định về việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, chúng ta đang áp dụng đối với người nước ngoài vào khu kinh tế ven biển Phú Quốc được miễn thị thực 30 ngày (như nhập cảnh vào đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt) nhưng Luật chưa quy định miễn thị thực cho người nước ngoài vào khu kinh tế ven biển.

Thứ tư, quy định thị thực không được chuyển đổi mục đích

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 7 của Luật “Thị thực có giá trị một lần hoặc nhiều lần và không được chuyển đổi mục đích”. Quy định thị thực không được chuyển đổi mục đích nhằm tránh tình trạng người nước ngoài vào Việt Nam với danh nghĩa thăm quan, du lịch, sau đó xin chuyển đổi để thực hiện các mục đích khác, nhất là số người nước ngoài xin chuyển đổi mục đích ở lại Việt Nam để làm việc tại các công trình, dự án. Nhưng thực tế áp dụng cho thấy, quy định nêu trên chưa thực sự tạo điều kiện cho người nước ngoài nhập cảnh bằng các thị thực DN, NN3…(không phải thị thực đầu tư, lao động), sau đó khi đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép lao động… thì họ phải xuất cảnh để cơ quan, tổ chức bảo lãnh làm thủ tục xin cấp mới thị thực theo đúng mục đích nhập cảnh, dẫn đến vừa gây tốn kém cho doanh nghiệp vừa mang tính hình thức đối với một số trường hợp.

Thứ năm, quy định thị thực cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Theo quy đinh tại Điểm a, Khoản 4, Điều 10 của Luật “Người nước ngoài vào đầu tư phải có giấy tờ chứng minh việc đầu tư tại Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư”. Đối với thị thực ký hiệu ĐT (cấp cho nhà đầu tư nước ngoài, luật sư) có thời hạn đến 05 năm. Quy định trên nhằm ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, song đã bị lợi dụng vì thực tế có trường hợp người nước ngoài chỉ góp số vốn nhỏ vào doanh nghiệp (dưới 10 triệu đồng) để xin cấp thẻ tạm trú ký hiệu ĐT, thời hạn đến 05 năm nhằm hợp thức việc ở lại Việt Nam.

Thứ sáu, giải quyết cho người nước ngoài thường trú

Theo quy định tại Điều 39 của Luật, các trường hợp được xét cho thường trú gồm: người nước ngoài có công lao, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được nhà nước Việt Nam tặng huân chương hoặc danh hiệu vinh dự nhà nước; người nước ngoài là nhà khoa học, chuyên gia đang tạm trú tại Việt Nam; người nước ngoài được cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam bảo lãnh; người không quốc tịch đã tạm trú liên tục tại Việt Nam từ năm 2000 trở về trước. Quá trình thực hiện từ 01/01/2015 đến 15/11/2018 đã có 924 trường hợp được cấp thẻ thường trú, tập trung chủ yếu ở Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, An Giang…, trong đó, chủ yếu là người nước ngoài là vợ, chồng, con của công dân Việt Nam và trường hợp người không quốc tịch đã cư trú tại Việt Nam từ năm 2000 trở về trước.

Tuy nhiên cũng đã phát sinh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết thường trú vì theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 41 của Luật, hồ sơ xin thường trú của người nước ngoài bên cạnh các giấy tờ khác còn phải kèm theo “Công hàm của cơ quan đại diện của nước mà người đó là công dân đề nghị Việt Nam giải quyết cho người đó thường trú”. Trong thực tiễn, một số trẻ em là con lai giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài nay trở về Việt Nam và trẻ em là con của phụ nữ một số địa phương với người nước ngoài sang Việt Nam do cha chết, cha và mẹ ly hôn nay muốn ở lại Việt Nam nhưng chưa được giải quyết thường trú vì thiếu công hàm của cơ quan đại diện của nước mà trẻ em mang quốc tịch nên không đăng ký thường trú cho các em.

Thứ bảy, các trường hợp được mời, bảo lãnh người nước ngoài

Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người nước ngoài tại Việt Nam quy định về người sử dụng lao động người nước ngoài, trong đó có “hộ kinh doanh, cá nhân được phép hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật” và “nhà thầu nước ngoài hoặc trong nước tham dự thầu, thực hiện hợp đồng” nhưng Khoản 1, Điều 14 của Luật chưa quy định các trường hợp trên được mời, bảo lãnh người nước ngoài.

Cao Thị Nga

Học viện Chính trị CAND

Tài liệu tham khảo:

1. Luật số 47/2014/QH13 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

2. Dự thảo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

3. Báo cáo năm 2015, 2016, 2017, 2018 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - BCA. 

 

 


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác