Thứ Hai, 19/8/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam ở Trại Tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội

Trước ngày 05/10/2017, Trại Tạm giam số 2 của Công an thành phố Hà Nội duy trì việc quản lý người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân tại hai cơ sở. Được sự đồng ý của Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, từ ngày 05/10/2017, hai cơ sở này đã được gộp lại để đảm bảo hiệu quả trong việc bố trí giam giữ, giáo dục, cải tạo người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân.

Trong thời gian qua, công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả, phục vụ khá tốt yêu cầu công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, lực lượng Cảnh sát Quản lý trại tạm giam được tiến hành tất cả các biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi vi phạm, khắc phục những sơ hở thiếu sót từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giam giữ người bị tạm giữ, tạm giam. Đồng thời đơn vị có mối quan hệ phối hợp giữa Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội với các cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam, bao gồm: Phòng Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng,  Công an thành phố Hà Nội; với Cơ quan điều tra (CQĐT); với Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Tòa án nhân dân (TAND); với Luật sư, người bào chữa khác... Đặc biệt là địa phương nơi đơn vị đóng quân để nắm chắc được địa bàn, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Về cơ bản, Trại Tạm giam số 2 đã cơ bản thực hiện tốt các quy định của pháp luật về quản lý, tạm giữ, tạm giam và giáo dục đối với người bị tạm giữ, tạm giam, như: Luật Thi hành án hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Quy chế về tạm giữ, tạm giam; Quy chế trại giam; quán triệt và thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội; Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng; Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an về những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý tạm giữ, tạm giam và giáo dục, cải tạo người bị tạm giữ, tạm giam.

Bên cạnh đó, Trại Tạm giam số 2 đã tổ chức công tác quản lý tạm giữ, tạm giam và giáo dục, cải tạo người bị tạm giữ, tạm giam đảm bảo về quy trình, thủ tục theo quy định: đã nắm được tình hình người bị tạm giữ, tạm giam; thực hiện cơ bản đảm bảo các khâu tiếp nhận, nghiên cứu hồ sơ, phân loại bố trí, quản lý giam giữ, giáo dục người bị tạm giữ, tạm giam; thực hiện các chế độ chính sách theo quy định; thực hiện các yêu cầu trích xuất, dẫn giải; áp dụng các biện pháp quản lý, nghiệp vụ công khai và bí mật; đã kết hợp đấu tranh bằng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ.

Công tác cán bộ từng bước đã được quan tâm tăng cường, củng cố, bao gồm: Cơ cấu tổ chức của Trại đã được kiện toàn một bước; đội ngũ cán bộ được bổ sung về số lượng cũng như quan tâm đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm công tác; nhìn chung cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng, ý thức trách nhiệm với công việc, có phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tốt; quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng và thực chế độ chính sách cán bộ theo quy định và trong điều kiện cho phép.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện phục vụ công tác đã từng bước được quan tâm đầu tư: Trại đã được đầu tư xây dựng mới một số phòng làm việc, hệ thống buồng giam, giữ... hệ thống KSAN đã được trang bị bước đầu và đang được đề nghị nâng cấp, cải tạo; một số thiêt bị nghiệp vụ, phương tiện, công cụ hỗ trợ, thiết bị máy văn phòng đã được trang cấp phục vụ yêu cầu công tác tạm giữ, tạm giam của Trại.

Mối quan hệ phối hợp trong quản lý tạm giữ, tạm giam đã được xây dựng, về cơ bản đã được duy trì và phát huy tác dụng. Các lực lượng tham gia phối hợp trong và ngoài ngành tuy còn bộc lộ những hạn chế, vướng mắc nhất định nhưng nhìn chung đều có ý thức trách nhiệm, chặt chẽ, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, đảm bảo các yêu cầu chính trị, nghiệp vụ và pháp luật. Quá trình phối hợp quản lý giam giữ, Ban Giám thị Trại Tạm giam số 2 cơ bản đã đảm bảo việc kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện những tình huống đột xuất, diễn biến tư tưởng, tâm lý của người bị tạm giữ, tạm giam để từ đó đưa ra những kế hoạch thực hiện đảm bảo phù hợp, hiệu quả.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội gặp một số tồn tại, bất cậpcần khắc phục, như:

Thứ nhất, về công tác xây dựng lực lượng.

Hiện nay, tại Trại Tạm giam số 2 vẫn còn một số cán bộ, chiến sĩ vi phạm trong quá trình công tác; chưa chịu khó học hỏi, chưa nắm vững về pháp luật, nghiệp vụ, chủ quan, chưa chấp hành đúng các quy định về quản lý tạm giữ, tạm giam; chưa chủ động đề xuất Ban Giám thị có những biện pháp công tác hiệu quả; công tác kiểm tra, chấn chỉnh của Ban Giám thị có lúc còn chưa sâu sát, kịp thời.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, tin học và ngoại ngữ của cán bộ, chiến sĩ so với mặt bằng chung không cao, do công tác đào tạo để nâng cao trình độ chưa được quan tâm đúng mức.

Việc kết nạp Đảng viên mới tỷ lệ thấp; sinh hoạt đảng định kỳ chưa được thường xuyên, nội dung sinh hoạt chưa phong phú; công tác thi đua khen thưởng khối đoàn thể còn hạn chế, chưa kịp thời; còn một số đoàn viên, hội viên chưa tích cực rèn luyện, tham gia các phong trào, hoạt động thể dục, thể thao.

Thứ hai, cơ sở vật chất, hậu cần, trang thiết bị phương tiện phục vụ công tác của Trại cũng có những hạn chế, cụ thể: Nhiều công trình của Trại được đầu tư xây dựng đã lâu nên có một số hạng mục đã và đang xuống cấp, do vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tạm giữ, tạm giam, bao gồm: Hệ thống cổng ra vào, vọng gác, hệ thống điện chiếu sáng, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, phòng cháy, chữa cháy; chưa có đủ cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu cho CBCS trong sinh hoạt, giải trí, thể dục, thể thao sau những giờ làm việc căng thẳng, như: Không có sân bóng đá, cầu lông, bóng bàn...

Trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ; phương tiện, kỹ thuật nghiệp vụ vẫn còn thiếu so với quy định và nhu cầu thực tế. Chất lượng phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ trang bị không đảm bảo.

Thứ ba, trong công tác quản lý, giáo dục người bị tạm giữ, tạm giam:

Về công tác phân loại, bố trí giam giữ, việc thực hiện chế độ chính sách đối với người bị tạm giữ, tạm giam vẫn còn những hạn chế, vướng mắc.

Công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam có lúc còn chưa thực sự chặt chẽ, nghiêm ngặt, nhất là vào các thời điểm giờ nghỉ, ngày nghỉ, ban đêm. Vẫn còn xảy ra tình trạng vi phạm nội quy, thông cung, trốn trại.

Thứ tư, trong quan hệ phối hợp giữa Trại Tạm giam số 2 với các đơn vị chức năng có liên quan.

Công tác trao đổi thông tin giữa trại với Cơ quan điều tra còn hạn chế như: chuyển giao những thông tin từ phía trại đến Cơ quan điều tra đôi khi chưa kịp thời nên đã hạn chế đến kết quả của việc xử lý tin; còn có trường hợp Cơ quan điều tra khi yêu cầu giam giữ không cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng đã hạn chế hiệu quả quan hệ phối hợp trong tạm giữ, tạm giam.

Còn có tình trạng khi kết thúc giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không thông báo bằng văn bản cho trại theo quy định hoặc khi đưa bị cáo ra xét xử, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng không thông báo do vậy việc thông báo hết thời hạn tạm giam cũng gặp khó khăn.

Từ những khó khăn bất cập trên, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý tạm giữ, tạm giam ở Trại Tạm giam số 2 cần tiến hành một số biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về công tác quản lý tạm giữ, tạm giam cho các cấp lãnh đạo và cán bộ thực thi nhiệm vụ trong lĩnh vực công tác tạm giữ, tạm giam. Nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý người bị tạm giữ, tạm giam thông qua việc tổ chức các buổi Hội thảo khoa học, Tọa đàm khoa học; tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học, viết sách, tài liệu tham khảo, viết giáo trình... Việc nghiên cứu, hoàn thiện lý luận ở lĩnh vực này phải được triển khai sâu, rộng trong các trường CAND, các đơn vị chuyên trách được phân công đảm nhận về nhiệm vụ khoa học hoặc chỉ đạo, quản lý nhà nước về hoạt động tạm giữ, tạm giam.

Hai là, hoàn thiện và kiện toàn công tác xây dựng lực lượng, cơ sở vật chất, hậu cần tại Trại Tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội, như: Bố trí khu giải trí, thể dục thể thao cho cán bộ, chiến sĩ; thành lập Bệnh xá. Tăng cường nguồn lực và cơ sở vật chất đầu tư cho nghiên cứu về công tác quản lý tạm giữ, tạm giam. Trong đó cần ưu tiên đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho trại; khuyến khích, động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia các khóa học để nâng cao trình độ.

Ba là, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, khắc phục ngay một số tồn tại trong công tác nghiệp vụ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý. Cụ thể: Lãnh đạo Ban Giám thị Trại Tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội cần chỉ đạo khẩn trương khắc phục những hạn chế trong công tác giam giữ; khắc phục kịp thời công tiếp nhận hồ sơ; thường xuyên luyện tập thành thạo các phương án bảo vệ Trại, phương án phòng, chống các tình huống đột xuất có thể xảy ra.

Bốn là, tăng cường mối quan hệ phối hợp trong quản lý, giáo dục người bị tạm giữ, tạm giam.

Các mối quan hệ cần quan tâm, coi trọng trong quá trình quản lý, giáo dục người bị tạm giữ, tạm giam, đó là: Cần tăng cường quan hệ phối hợp với các cơ quan, đơn vị, lực lượng trong và ngoài ngành (CQĐT, VKSND, TASND, Luật sư, Cơ quan thanh tra, các phòng nghiệp vụ thuộc Cục, Công an địa phương...). Cần tạo mọi điều kiện có thể trong phạm vi cho phép và quy định của pháp luật, của Ngành giúp CQĐT, VKSND, TAND, Luật sư bào chữa, các tổ chức hoạt động nhân quyền trong và ngoài nước, thân nhân của người bị tạm giữ, tạm giam... trong việc điều tra, truy tố, xét xử, thăm quan, thẩm vấn, thăm nuôi đúng quy định của pháp luật, góp phần phòng, chống oan sai, vi phạm dân chủ, nhân quyền đối với công dân. Cần chủ động và tăng cường mối quan hệ với địa phương sở tại trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, phòng, chống các hành vi trốn, phá trại và các phong trào thực hiện các cuộc vận động, cũng như các phong trào thi đua khác mà Đảng, Nhà nước, ngành Công an, địa phương phát động, tổ chức. Thực hiện xây dựng mối quan hệ giữa đơn vị và địa phương, quân, dân ngày càng bền chặt.

Đinh Thế Chính

Học viên Cao học khóa 26-HVCSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác