Thứ Ba, 21/5/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Vai trò của công an nhân dân trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ra đời từ rất sớm, được xem là bắt đầu từ các đội Tự Vệ Đỏ trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), ngay từ khi mới thành lập, lực lượng CAND đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc trừ gian, Hộ lương diệt ác, chống các hoạt động phá hoại và do thám của thực dân Pháp và chính quyền tay sai, bảo vệ đảng, bảo vệ cách mạng. Điển hình là việc lực lượng CAND đã phá tan âm mưu thâm độc của thực dân Pháp và Quốc dân đảng nhằm lật đổ chính quyền Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Theo đó, ngày 12/7/1946, lực lượng CAND đã đột nhập trụ sở bí mật của Quốc dân đảng ở số nhà 132 phố Đuy - Vi - Nhô (nay là phố Bùi Thị Xuân), và nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội). Tại đây, lực lượng CAND đã bắt giữ những tên cầm đầu của Quốc dân đảng, khám phá ra nơi chúng in giấy bạc giả, thu giữ nhiều tài liệu phản động, vũ khí, dụng cụ tra tấn, giải thoát được một số đồng bào và cán bộ của ta khi chúng sắp đem đi thủ tiêu. Ngay sau đó, lực lượng CAND đã lập nhiều chiến công hiển hách khác trong việc bảo vệ Nhà nước non trẻ, bảo vệ trụ sở kháng chiến tại chiến khu Việt Bắc, đóng góp không nhỏ vào chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm 1954.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve được ký kết, cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc, nước Pháp tuyên bố rút quân về nước, miền Bắc của Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Geneve, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội này ngang nhiên phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam với chiêu bài “Hậu thuẫn chính phủ Quốc Gia Việt Nam” (sau là Việt Nam Cộng hoà); chúng tổ chức, chỉ huy nguỵ quân, nguỵ quyền và tay sai của Chính phủ bù nhìn do anh em họ Ngô (đứng đầu là Ngô Đình Diệm) thông qua việc kiên quyết từ chối tuyển cử nhằm duy trì một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam; liên tiếp viện trợ về kinh tế, quân sự nhằm biến miền Nam của Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta; phân chia nước ta làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Để thực hiện được ý đồ thôn tính Việt Nam, bên cạnh việc củng cố, duy trì chế độ nguỵ quân, nguỵ quyền, đế quốc Mỹ và tay sai còn liên tục mở nhiều đợt lùng sục, càn quét các cơ sở và căn cứ địa cách mạng ở phía Nam, liên tục thực hiện nhiều chiến dịch phá hoại, tung các toán gián điệp, biệt kích, tiến hành chiến tranh “leo thang” chống phá miền Bắc của Việt Nam.

Tuy nhiên, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã chủ động đánh địch trên tất cả các mặt trận và gây cho Mỹ - Nguỵ những tổn thất rất nặng nề. Trước những thất bại nặng nề của Mỹ - Nguỵ trên chiến trường miền Nam, tháng 10 năm 1974 Bộ Chính trị đã họp và nhận định: “Đây là thời cơ thụân lợi nhất để nhân dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành thắng lợi hoàn toàn cho cách mạng, dân tộc, dân chủ… Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác”. Phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chỉ tính từ tháng 1/1975 đến ngày 29/4/1975, Bộ Công an đã huy động đến mức cao nhất về lực lượng, vũ khí và phương tiện kỹ thuật chuyên ngành cho chiến trường miền Nam (chi viện 4.500 cán bộ có kinh nghiệm công tác, chiến đấu), nâng tổng số cán bộ Công an chi viện cho miền Nam lên hơn 11.000 đồng chí. Trong số đó, có hàng nghìn lá đơn tình nguyện của cán bộ, chiến sĩ Công an các đơn vị, địa phương sẵn sàng vì chiến trường miền Nam ruột thịt, với tư tưởng, suy nghĩ sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mặc dù biết trong chiến trường đó có rất nhiều khó khăn, gian khổ và sự hy sinh về xương, máu. Việc chi viện này của lực lượng Công an miền Bắc nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:

- Thông qua cuộc chi viện này để thay đổi tương quan lực lượng, tăng cường sự lãnh đạo và phục vụ cho xây dựng phát triển lực lượng tại chỗ, đẩy mạnh cuộc đấu tranh trấn áp phản cách mạng ở miền Nam.

- Cùng với quân và dân miền Nam, đặc biệt là lực lượng Giải phóng quân tổ chức đánh địch, tấn công địch trên tất cả các mặt trận.

- Bảo vệ vững chắc các căn cứ địa cách mạng, các vùng mới giải phóng; bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng tại chiến trường miền Nam; bảo vệ an toàn các chiến dịch lớn và các cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam.

- Xâm nhập sâu vào các cơ quan đầu não của địch để nắm tình hình, thu thập tin tức phục vụ cho sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam và của Bộ Công an đối với các cuộc đấu tranh chống lại các kế hoạch tình báo của Mỹ - Nguỵ tại miền Nam Việt Nam.

- Diệt ác, phá kỳ, trừng trị những tên tay sai, việt gian, phản động nội xóm; làm trong sạch địa bàn trước khi quân chủ lực của quân đội tiến công, cùng với nhân dân đã làm chủ từng phần ở các vùng và tạo thế tạo lực cho bộ đội tiến công đến khi bộ đội tiến công thì chúng ta đã nhanh chóng làm chủ được tình hình ngay khi giải phóng.

Có thể thấy, cùng với quân số do lực lượng Công an miền Bắc chi viện, lực lượng An ninh miền Nam có những bước phát triển mới, lập nhiều chiến công lớn. Giai đoạn từ 1961-1965, lực lượng An ninh miền Nam đã phá 458 vụ nội gián, hơn 4.000 ấp, 10 khu chủ mật đưa hàng chục vạn dân về chỗ ở cũ. Những tên ác ôn, chống cộng nổi tiếng như Nguyễn Văn Bông - Chủ tịch Đảng Cấp tiến, Trần Văn Văn - Chủ tịch Quốc hội Ngụy quyền, đều đã bị tiêu diệt. Đập tan các trận càn Ateboro, Junction city, bảo vệ tuyệt đối lãnh đạo Trung ương cục và Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn từ 1968 - 1975, An ninh cục miền Nam đã triển khai có hiệu quả hai mặt công tác chủ yếu là tổ chức đánh địch, bảo vệ tổ chức cơ sở Đảng tại các căn cứ cách mạng, vùng giải phóng, vận động quần chúng diệt ác, phá kìm, phá chính quyền cơ sở của địch; phối hợp với cơ sở khẩn trương điều tra, lập sơ đồ hệ thống bố phòng của địch; dựng lại các tổ chức, tình báo, gián điệp, cảnh sát, hệ thống kìm kẹp và các tổ chức đảng phái phản động; lập hồ sơ, phân loại các đối tượng nguy hiểm cần trấn áp; chuẩn bị các thông cáo, lệnh, thư, khẩu hiệu để phục vụ nhiệm vụ tấn công chính trị vào hàng ngũ kẻ thù. Bên cạnh đó, còn tham gia tích cực vào việc mở đường, tấn công từ bên ngoài kết hợp với nổi dậy từ bên trong, góp phần đập tan sự phản kháng của bọn phản cách mạng, nhanh chóng chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công; chốt giữ các cửa ngõ ra vào thành phố, ngăn chặn, bắt giữ số đối tượng cạy trốn. Nhiều cán bộ, chiến sĩ và cơ sở an ninh đã dũng cảm, mưu trí vào tận hang ổ của địch để tuyên truyền, vận động binh lính nguỵ bỏ súng đầu hàng, phát động quần chúng nổi dậy, diệt ác, trừ gian, bắt bọn đầu sỏ, ác ôn trong các cơ quan cảnh sát, tình báo, gián điệp của địch, chiêu hồi đảng phái phản động, góp phần bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt, chiếm lĩnh nhiều trụ sở cảnh sát, trụ sở nguỵ quyền… đã tác động số sĩ quan, binh lính nguỵ, công nhân, viên chức trong các cơ quan nguỵ quyền “án binh bất động”, bảo quản hồ sơ, tài liệu, phương tiện kỹ thuật, treo cờ cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng vũ trang cách mạng tiến công, chiếm lĩnh các mục tiêu trọng yếu của địch, góp phần hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ của dân tộc ta.

Cùng với việc chi viện về người, phương tiện, vũ khí, khí tài cho chiến trường miền Nam, lực lượng CAND còn làm tốt vai trò nòng cốt trong trận địa an ninh nhân dân, giữ gìn trật tự trị an để bảo vệ và xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trong khi vũ khí, phương tiện được trang bị còn rất thô sơ, lực lượng không phải là nhiều nhưng lại làm được việc hết sức trọng đại là hậu phương hết sức vững chắc về mặt chính trị, tư tưởng, cũng như là mặt an ninh, an toàn xã hội của miền Bắc tại thời điểm đó. Cụ thể: Tham gia khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh; vận động, tổ chức nhân dân đi sơ tán; bảo vệ tài sản Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông - vận tải; tham gia cứu thương, cứu người sập hầm, phòng cháy chữa cháy; khoanh vùng trấp áp bọn phản cách mạng tập trung vào địa bàn xung yếu, địa bàn có nhiều tàn dư của nguỵ quân, nguỵ quyền và đảng phái phản động; làm tốt công tác giữa chống cưỡng ép di cư với phòng, chống gián điệp, qua đó hạn chế được số đồng bào bị Mỹ - Nguỵ dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam và ngăn chặn có hiệu quả âm mưu cài cắm gián điệp, nội gián của địch để phá hoại, gây rối nội bộ ta; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân đồng loạt mở các chiến dịch tiễu phỉ, giải quyết dứt điểm nạn “nổi phỉ” ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, bắt và diệt gần 5.000 tên. Đến năm 1960, hang ổ phỉ cuối cùng tại Đồng Văn, Hà Giang bi ta xoá sổ, tình hình an ninh, trật tự, chính trị, xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc được ổn định. Chủ động bóc gỡ mạng lưới gián điệp do thực dân Pháp và đến quốc Mỹ gài lại, từ năm 1954 đến 1961, lực lượng CAND đã tiến hành đấu tranh có hiệu quả với các chuyên án gián điệp, bắt gần 100 đối tượng, phát hiện, thu giữ hàng chục kho vũ khí do địch bí mật chôn dấu làm phương tiện hoạt động lâu dài của “đội quân ngầm”, thậm chí có kho vũ khí đủ trang bị cho cả trung đoàn. Chủ động nắm bắt âm mưu của địch, chuẩn địa bàn “đón lõng”, bắt gọn các toán gián điệp, biệt kích xâm nhập, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, điều khiển trung tâm địch hoạt động theo ý định của ta. Từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng Công an đã tổ chức đấu tranh với gần 30 chuyên án theo phương châm “quét sạch nhà để đón khách không mời mà đến”, “giữ bên trong là chính”, bắt và diệt hơn 100 toán gián điệp biệt kích, với gần 1.000 đối tượng, thu hàng trăm tấn vũ khí tối tân, phương tiện thông tin liên lạc hiện đại của địch.

Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc ổn định tình hình an ninh, trật tự tại miền Nam, nhiều đối tượng hình sự cộm cán, lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ nguy hiểm từ thời chế độ cũ nhân lúc tình hình rối ren đã thực hiện nhiều vụ cướp của, giết người, gây tâm lý hoang mang trong lòng quần chúng nhân dân. Để giúp cho việc ổn định tình hình, Bộ Công an đã cử thêm nhiều đoàn cán bộ để tiếp quản vùng mới giải phóng, để phục vụ cho công tác trình diện, công tác tập trung cải tạo các đối tượng nguỵ quân, nguỵ quyền, bảo vệ an ninh, trật tự tại các vùng mới giải phóng nhất là tại các khu đô thị, cùng với Quân đội nhân dân chấn áp các hoạt động vũ trang, nổi dậy của các đối tượng nguỵ quân, nguỵ quyền cũ. Đặc biệt, đã bóc gỡ được nhiều mạng lưới nội gián, gián điệp, mạng lưới mật báo viên, tình báo viên do địch cài lại; ổn định nội bộ, làm trong sạch nội bộ, ổn định đời sống của nhân dân.

Để đi đến chiến thắng lịch sử vĩ đại đó, đã có hơn 8.000 chiến sĩ của lực lượng CAND đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất họ đã sống, chiến đấu và hy sinh vì nền độc lập; nhiều đồng chí còn đang mang trong mình thương tật và di chứng của chiến tranh vì sự bình yên của nhân dân, làm nên bản hùng ca bất diệt để lại dấu mốc son trong lịch sử giải phóng dân tộc Việt Nam. Kể từ thời gian đó đến nay, lực lượng CAND vẫn không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đóng góp không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, xứng đáng với truyền thống và niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Trong những năm tới, trước những thay đổi của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đẩy mạnh; tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp, đặt ra những thời cơ, thuận lợi, những nguy cơ và thách thức không thể xem nhẹ. Vì vậy, lực lượng CAND cần không ngừng đề cao cảnh giác, thống nhất về nhận thức và chấp hành nghiêm chỉnh sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, giữ vững tinh thần chủ động, sáng tạo, dũng cảm, mưu trí nhằm bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. Phát huy truyền thống của lực lượng CAND anh hùng, với những cố gắng mới, quyết tâm mới, với sự nỗ lực cao nhất, để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sỹ Bùi

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 35, Nxb. CTQG, Hà Nội-2004, tr.179.

2. Bộ Công an: 60 năm CAND Việt Nam (1945-2005), Nxb. CTQG, Hà Nội 2006, tr.50.

3. Tổng kết lịch sử CAND Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Nxb. CAND-2017, tr. 434.

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác