Thứ Ba, 25/6/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Những khó khăn vướng mắc và đề xuất giải pháp trong hoạt động giám định ma túy

Trong những năm gần đây, tình hình buôn bán vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các chất ma túy trên thế giới cũng như ở nước ta diễn biến phức tạp. Các chất ma túy tổng hợp có xu hướng gia tăng thay thế dần cho các loại ma túy truyền thống. Đặc biệt, theo báo cáo của Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy Liên hợp quốc (viết tắt là UNODC), thế giới hiện đang phải đối mặt với làn sóng gia tăng không ngừng của các chất hướng thần mới (viết tắt là NPS: New Psychoactive Substance). NPS là “những chất được sử dụng ở dạng tinh khiết hoặc hợp chất, hiện chưa được kiểm soát theo Công ước quốc tế thống nhất về các chất ma túy năm 1961 và Công ước quốc tế về các chất hướng thần năm 1971, có thể đe dọa tới sức khỏe cộng đồng”. Thuật ngữ “mới” nghĩa là mới xuất hiện trên thị trường ma túy bất hợp pháp. NPS tác động ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, gây rối loạn tâm lý, tăng thân nhiệt, tăng nhịp tim, hô hấp và huyết áp, kích thích hệ thống tim mạch, gây ảo giác, hoang tưởng, động kinh, suy gan, thận, giãn đồng tử, thậm chí dẫn đến tử vong. [7]
Như vậy, ở Việt nam, NPS được hiểu là chất có tác dụng như chất ma túy nhưng chưa có trong các Danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành theo Nghị định 67/2001/NĐ-CP ngày 1/10/2001 - Nghị định đầu tiên quy định Danh mục chất ma túy, tiền chất khi Việt Nam tham gia 3 Công ước quốc tế về ma túy. 

1. Xu hướng gia tăng NPS trên thế giới và ở nước ta
Kể từ khi ban hành công ước về các chất hướng thần năm 1971 đến cuối năm 2009 toàn thế giới thông báo đã phát hiện 166 NPS. Đến năm 2012, phát hiện 270 NPS tại 94 quốc gia, vùng lãnh thổ và các năm tiếp theo NPS tiếp tục gia tăng báo động: năm 2015, số NPS đã gấp hơn ba lần năm 2012 và có mặt tại 102 quốc gia; đến cuối 2017, đã phát hiện trên 800 NPS tại 111 quốc gia và vùng lãnh thổ [7,8,9].
Các NPS hiện đang được sử dụng nhiều trên thế giới thuộc các nhóm Cần sa tổng hợp; cathinon tổng hợp; ketaminh; phenethylamin; piperazin; chất có nguồn gốc từ thực vật như cây khat, kratom, salvia divironum và các chất tổng hợp khác như aminoindan, phencyclidin, tryptamin. Năm 2018, UNODC đang cảnh báo về sự gia tăng của opioid tổng hợp (dẫn xuất của fentanyl), các chất giảm đau (nhóm benzodiazepin) và Cocain. [9,10] Không chỉ xuất hiện thêm nhiều NPS, mà còn có xu hướng phối hợp nhiều chất ma túy với NPS hoặc giữa các NPS trong mẫu thu giữ.
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Châu Á hiện đang đứng thứ hai thế giới về mức độ nghiêm trọng của tình hình NPS. [8]
Việt Nam gần khu vực Tam giác vàng, trung tâm sản xuất ma túy lớn của thế giới, chịu tác động và ảnh hưởng từ nguồn cung và các tuyến chính về vận chuyển ma túy, tiền chất; Diễn biến tiêu cực của tình hình ma túy trên thế giới, khu vực đã và đang trực tiếp tác động, làm cho tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy ở nước ta tiếp tục diễn biến phức tạp. UNODC dự báo thời gian tới các NPS ngày càng phổ biến trong khu vực và ở nước ta, làm cho cuộc chiến phòng, chống ma túy ngày càng cam go, quyết liệt. 
Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, phát triển công nghệ và chính sách mở cửa, đa phương hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đã mang lại nhiều lợi ích to lớn trong đời sống xã hội nhưng nó cũng là cơ hội mà bọn tội phạm lợi dụng làm cho tình hình tội phạm phức tạp hơn với phương thức thủ đoạn tinh vi hơn. Làn sóng gia tăng “chất hướng thần mới” đã tràn đến thị trường nước ta. Năm 2001, Danh mục chất ma túy cần kiểm soát ở nước ta là 227 chất. [2] Trong quá trình đấu tranh phòng, chống ma túy, các đơn vị chức năng đã bắt giữ và giám định phát hiện nhiều loại “ma túy mới” đề xuất Chính phủ bổ sung vào Danh mục ma túy cần kiểm soát. Theo đó đến cuối năm 2015, Danh mục kiểm soát ma túy ở nước ta có 250 chất. [3]  Năm 2016 và 2017, làn sóng “trà sữa”, “nước vui”, rồi đến “cỏ Mỹ’, “muối tắm” tràn vào thị trường Việt Nam, làm cho công cuộc phòng, chống ma túy diễn biến rất phức tạp. [6] Nhiều vụ bắt giữ, thậm chí thu số lượng mẫu lớn nhưng không xử lý được về tội ma túy làm cho nhiều đối tượng phạm tội có biểu hiện thách thức cơ quan chức năng, ra sức tuyên truyền xuyên tạc rằng đó không phải là ma túy, không gây nghiện,… Khi đó, các Ban ngành chức năng đã chủ động tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2018/NĐ-CP quy định các Danh mục các chất ma túy, tiền chất chứa 515 chất/nhóm chất ma túy, thay thế Nghị định 82/2013/NĐ-CP và Nghị định 126/2015/NĐ-CP. Nghĩa là đã bổ sung thêm 228 chất/nhóm chất vào Nghị định 67/2001/NĐ-CP. Như vậy, 15 năm (từ 2001-2015) bổ sung 23 NPS, nhưng 3 năm gần đây (2015-2018) số NPS tăng lên 228 chất.
Cỏ Mỹ hay muối tắm không phải là một chất mà là nhiều nhóm chất. Mỗi nhóm lại chứa nhiều chất là dẫn xuất của nhau. Khi chất hóa học được thay đổi (có thể rất nhỏ) lại cho ra một chất mới. Đó là lý do giải thích tại sao khi pháp luật vừa kiểm soát một chất A thì chỉ một thời gian ngắn các đối tượng lại chuyển sang một chất A’ có cùng tác dụng. Chẳng hạn, đầu năm 2018, các nhà khoa học đã thông báo khoảng hơn 200 hoạt chất được tẩm làm “cỏ Mỹ” thì cuối năm 2018 đã phát hiện thêm hàng chục hoạt chất cùng họ “cỏ Mỹ”. Đây là thách thức không chỉ riêng của Việt Nam mà của cả thế giới. Sự gia tăng NPS nhanh chóng như vậy, lực lượng Khoa học hình sự quốc tế nói chung và Khoa học hình sự Việt nam nói riêng đang gặp những thách thức rất lớn trong việc phát hiện, giám định.

2. Những khó khăn vướng mắc trong công tác giám định ma túy phục vụ điều tra tội phạm
Giám định ma túy là hoạt động bổ trợ tư pháp bắt buộc phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử: Tất cả các vụ án thu được mẫu nghi ma túy đều phải trưng cầu giám định. [1] Kết luận giám định là nguồn chứng cứ vật chất quan trọng để kết tội, định khung đối với đối tượng phạm tội. [5]
Trên thực tế, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của Bản kết luận giám định như: Khám nghiệm hiện trường, thu bảo quản mẫu gửi giám định; tay nghề giám định viên; phương pháp và phương tiện, thiết bị; mẫu chuẩn sử dụng trong giám định. Để kiểm soát được các yếu tố ảnh hưởng, đảm bảo tính khoa học, độ tin cậy kết quả, Hiệp hội Khoa học hình sự quốc tế đưa ra “Nguyên tắc Tiêu chuẩn tối thiểu” (viết tắt NTTCTT) áp dụng khi giám định mẫu ma túy thu giữ. 
Việc áp dụng NTTCTT trong lựa chọn phương pháp giám định các mẫu ma túy thu giữ ở nước ta là nhằm nâng cao chất lượng giám định, độ tin cậy của kết quả giám định và đảm bảo thống nhất chất lượng bản kết luận giám định trong toàn lực lượng, phòng ngừa những sai sót kết quả do “ngộ nhận” của giám định viên trong điều kiện thực tế.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, ngành Công an đã có những đầu tư đáng kể nhằm nâng cao năng lực giám định, khám nghiệm hiện trường cho Lực lượng KTHS. Cán bộ, chiến sĩ làm công tác giám định ma túy đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, rèn luyện phấn đấu đạt được nhiều thành tích được biểu dương, ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích, những thuận lợi về mọi mặt thì thực tế công tác giám định cũng còn gặp phải một số khó khăn, thách thức trước yêu cầu của tình hình mới. Đó là:
Một là, các quy trình giám định NPS còn rất thiếu so với yêu cầu công tác. Các phương pháp sử dụng trong NTTCTT phải được thẩm định, đánh giá loại trừ hoặc kiểm soát được dương tính giả. Do đó, muốn áp dụng bất kỳ một phương tiện, thiết bị nào trong việc phát hiện, nhận dạng chất ma túy đều phải thông qua một quy trình giám định đã được đánh giá, thẩm định. Thời gian qua sự gia tăng của các NPS quá nhanh, trong khi kinh phí dành cho công tác nghiên cứu khoa học, phát triển các quy trình kỹ thuật còn hạn chế. Hơn nữa việc mua mẫu chuẩn NPS để xây dựng, thẩm định quy trình cũng rất khó khăn. Kết quả là phần lớn các NPS không được giám định tại các Phòng KTHS, mặc dù hệ thống thiết bị được đầu tư tương đối đầy đủ.
Hai là, không có hoặc không đủ mẫu chuẩn ma túy dùng trong quy trình giám định. Hàng năm, lực lượng KTHS toàn quốc tiến hành giám định khoảng 20.000 vụ ma túy. Hầu hết các phương pháp phân tích sử dụng trong giám định ma túy ở nước ta cũng giống như trên thế giới là phương pháp so sánh. Nghĩa là phải phân tích song song mẫu chuẩn và mẫu nghi ngờ để so sánh hai kết quả. Do đó, nhu cầu mẫu chuẩn ma túy dùng trong quy trình giám định hàng ngày của lực lượng Kỹ thuật hình sự là rất lớn. 
Ba là, thiết bị giám định phát hiện NPS chưa tương xứng với yêu cầu trong tình hình mới. Để giám định, phát hiện chính xác, phục vụ kịp thời theo yêu cầu của cơ quan điều tra, đặc biệt là với các NPS thì phải có các thiết bị phân tích cấu trúc chuyên sâu, hiện đại và đồng bộ. Trong những năm gần đây, ba phòng thí nghiệm giám định ma túy tại Viện và hai Phân viện được đầu tư một số thiết bị phân tích hiện đại nâng cao năng lực phát hiện, giám định các loại ma túy mới. 

3. Kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả công tác trong thời gian tới
Từ những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn công tác giám định ma túy, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp như sau:
- Thứ nhất, tập trung nghiên cứu xây dựng các quy trình kỹ thuật giám định các NPS trong mẫu thu giữ và mẫu sinh học:
+ Cần ưu tiên kinh phí nghiên cứu khoa học cho các nhiệm vụ xây dựng thẩm định quy trình kỹ thuật giám định các NPS, từ đó đề xuất Bộ ban hành các Tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực an ninh về giám định TCVN-AN. Quy trình giám định và mẫu chuẩn là cơ sở để các Phòng KTHS phát huy tối đa công năng các thiết bị được trang cấp, giải quyết kịp thời trưng cầu của cơ quan điều tra.
+ Các yêu cầu về phát hiện NPS trong các mẫu sinh học tuy không nhiều như mẫu thu giữ, nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong việc giám định mẫu sinh học các trường hợp chết chưa rõ nguyên nhân. Vì vậy, nghiên cứu xây dựng các quy trình kỹ thuật giám định các NPS trong mẫu sinh học cũng là nhiệm vụ cấp thiết. 
- Thứ hai, bổ sung cơ số mẫu chuẩn phục vụ giám định tư pháp: 
+ Với các loại ma túy đã có quy trình tinh chế và quy trình đánh giá chất lượng mẫu chuẩn (Tiêu chuẩn Quốc gia trong lĩnh vực an ninh TCVN-AN) thì cần có nguồn kinh phí thường xuyên để sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của lực lượng giám định ma túy toàn quốc. 
+ Với các loại ma túy đang bị lạm dụng (đã xuất hiện trên thị trường bất hợp pháp của nước ta và bị lực lượng chức năng bắt giữ) mà trong nước chưa sản xuất được thì cần phải nhập khẩu ngay để đáp ứng đủ cho nhu cầu giám định tư pháp. 
+ Lựa chọn các loại ma túy có tần suất lạm dụng cao (số mẫu cần trưng cầu giám định nhiều và đang phải chi phí nhiều ngoại tệ cho việc nhập khẩu mẫu chuẩn) để đầu tư kinh phí triển khai nghiên cứu, xây dựng quy trình tinh chế, sản xuất mẫu chuẩn đạt tiêu chuẩn thay thế mẫu ngoại nhập.
- Thứ ba, Nâng cấp phòng thí nghiệm giám định ma túy tại Viện Khoa học hình sự và đẩy mạnh liên kết, phối hợp khai thác các thiết bị phân tích chuyên sâu mà ngành chưa có để phát hiện, giám định các loại NPS mới.
+ Củng cố, nâng cấp phòng thí nghiệm giám định ma túy tại Phân Viện Khoa học hình sự tại ba miền: Cơ sở hạ tầng, các dụng cụ thí nghiệm,…
+ Đầu tư kinh phí bảo trì, nâng cấp các thiết bị phân tích thiết yếu, phân tích cấu trúc chuyên sâu đang có tại Viện và Phân viện để nâng cao năng lực chủ động phát hiện, định danh chính xác, kịp thời các loại ma túy mới.
+ Cần ký các quy chế hợp tác khai thác thiết bị với các cơ quan ngành ngoài nhằm tạo điều kiện để các giám định viên được chủ động khai thác, ứng dụng thiết bị trong phát hiện, nhận dạng các NPS lần đầu xuất hiện
- Thứ tư, Nâng cao năng lực nhận biết, phát hiện, thu thập và giám định các NPS cho lực lượng khám nghiệm hiện trường và giám định ma túy thông qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn:
+ Mở các lớp tập huấn nâng cao năng lực nhận biết, phát hiện, thu thập NPS cho các cán bộ khám nghiệm hiện trường, cán bộ điều tra về ma túy.
+ Mở các lớp tập huấn nâng cao năng lực sử dụng thiết bị GC-MS, FTIR để phát hiện, nhận biết ban đầu các NPS cho các giám định viên của Phòng KTHS.
+ Mở các lớp tập huấn nâng cao năng lực sử dụng thiết bị phân tích cấu trúc chuyên sâu như GC-MS (ToF), GC-FTIR, NMR,… để phát hiện, khẳng định các NPS chưa có mẫu chuẩn cho các giám định viên của Viện.


Nguyễn Xuân Trường
Giám đốc Trung tâm giám định ma túy-BCA

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Số: 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015 (sửa đổi 2017).

2. Chính phủ, (2001), Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001.

3. Chính phủ, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015. 

4. Chính phủ, (2018), Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. 

5. Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012.

6. Trung tâm giám định ma túy, Báo cáo tổng kết: Trung tâm giám định ma túy 15 năm xây dựng và trưởng thành (2016); Báo cáo tổng kết năm công tác giám định ma túy năm 2017; năm 2018.

7. UNODC, (2016), New psychoactive substances: overview of trends, challenges and legal approaches, pp 1-24.

8. UNODC, (2017), Early Warning Advisory on NPS, 2017 (https://www.unodc.org/LSS/Page/NPS).

9. UNODC, (2018), GLOBAL SMART UPDATE: Understanding the synthetic drug market: the NPS factor, Vol 19, pp 2-12.

10. UNODC, (2018), World drug report 2018, pp 11-17.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác