Thứ Tư, 23/10/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Những đặc điểm thường thấy trong các vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh ven biển, nằm ở trung độ của cả nước, có vị trí địa lý chính trị chiến lược về Quốc phòng - An ninh, thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung và Tây Nguyên, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước bạn Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; có 18 đơn vị hành chính cấp huyện (15 huyện, 01 thị xã, 2 thành phố) với 244 xã, phường, thị trấn.

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438km2 (trong đó, vùng đồi núi chiếm 72%). Địa hình tự nhiên có kết cấu tương đối đa dạng, phức tạp theo hướng thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: Vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; địa hình chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ. Tuyến biên giới đất liền trên bộ ở phía Tây có chiều dài 142km với 2 huyện gồm 14 xã giáp biên với tỉnh Sê Kông (Lào), có 02 cửa khẩu Nam Giang (Việt Nam) - Đắc Tà Ốc (Lào) và Tây Giang (Việt Nam) - KàLùm (Lào), 4 đường tiểu ngạch và nhiều đường mòn dân sinh qua lại biên giới. Bờ biển dài 125km và có 15 đảo lớn nhỏ.

Là tỉnh nằm trên tuyến giao thông huyết mạch của cả nước, kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh với cảng biển, sân bay, cửa khẩu và nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch đi qua (gồm tuyến 06 Quốc lộ) là điều kiện thuận lợi để đi lại, giao thương với các địa phương khác; hệ thống sông ngòi dày đặc gồm 28 con sông lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 878 km, bao gồm 9 con sông chính.

Tính đến cuối năm 2017, tổng dân số trên địa bàn tỉnh là 1.713.050 người (tăng 226.050 người ≈ 15,2% so với năm 2010), bao gồm dân số sinh sống ở khu vực thành thị khoảng 356.800 người (chiếm 20,83%), dân số tại khu vực nông thôn khoảng 1.356.250 người (chiếm 79,17 %), dân số nam 840.808 người (chiếm 49,1%), dân số nữ 872.242 người (chiếm 50,9%). Mật độ dân cư khoảng 164 người/km2, tuy nhiên, việc phân bố dân cư không đồng đều giữa các khu vực và địa bàn trong tỉnh, ở 09 địa phương khu vực trung du, đồng bằng ven biển dân cư chiếm khoảng 80% dân số toàn tỉnh; ở khu vực miền núi, mật độ dân số thấp, khoảng 41 người/km2.

Trên địa bàn tỉnh có 34 tộc người sinh sống, chủ yếu là người Kinh (chiếm khoảng 91,5%), người Cơ tu (chiếm 3,3%), người XơĐăng (chiếm 2,5 %) và người GiẻTriêng (chiếm 1,2%) và 29 tộc người còn lại chiếm khoảng 1,5%. Các tộc người thiểu số sinh sống chủ yếu tại các địa bàn miền núi của tỉnh, còn gặp nhiều khó khăn về đời sống, kinh tế.

Dân số trong độ tuổi lao động khoảng 1.024.000 người (chiếm khoảng 61% dân số toàn tỉnh). Chất lượng lao động được cải thiện đáng kể; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%; cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực (Cơ cấu lao động ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 48,12%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 25,1%, nhóm ngành thương mại - dịch vụ chiếm 26,78%). Số lao động địa phương khác chuyển đến làm việc, lao động trên địa bàn tỉnh khoảng 10.982 người, chiếm tỉ lệ nhỏ trong số lao động tại địa phương. Có khoảng 605 lao động ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng.

Trước diễn biến phức tạp và khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, với sức ép gay gắt của quy luật cạnh tranh nên nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong năm có chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra, tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) tăng 5,05% so với năm 2016 (kế hoạch tăng từ 11,5% - 12%). Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 20.950 tỷ đồng, đạt dự toán năm và nâng GRDP bình quân đầu người ước đạt 56 triệu đồng/người/năm, tăng 04 triệu đồng so với năm 2016. Nhìn chung, cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2017 chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm, tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm xuống còn 11,6% (năm 2016: 12,4%); công nghiệp, xây dựng tăng lên 35,8% (năm 2016: 36,6%); dịch vụ chiếm 33,7% (năm 2016: 30,1%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm gần 18,9% (năm 2016: 18,5%).

Qua nghiên cứu cho thấy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có những đặc điểm về giao thông đường bộ và đặc điểm đối tượng tham gia giao thông, như sau:

- Đặc điểm giao thông đường bộ của tỉnh Quảng Nam

Hệ thống giao thông vận tải ở Quảng Nam bao gồm đường bộ, đường sắt đường thủy, đường hàng không. Với vai trò là cửa ngõ của khu vực Miền trung, Tây nguyên, tuyên huyết mạch xương sống của cả nước; Quảng Nam là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước nói chung và khu vực Miền Trung, Tây Nguyên nói riêng. Trong đó, giao thông đường bộ (GTĐB) có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần đẩy mạnh giao lưu hội nhập với các vùng trong cả nước và các nước trong khu vực và trên thế giới.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 07 tuyến quốc lộ chạy qua, gồm: Quốc lộ 1A, 14B, 14D, 14E, 40B, 24C, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi và đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tỉnh còn có một hệ thống đường bộ gồm các tỉnh lộ như: 604, 607, 607B, 608, 609, 609B, 610, 610B, 611, 611B, 613, 614, 615, 617 và nhiều liên huyện, liên xã với tổng chiều dài hàng ngàn km. Mặc dù có hệ thống đường sá phủ khắp đến tận làng, xã nhưng nhìn chung, đường sá trên địa bàn tỉnh Quảng Nam chưa đồng bộ, mặt đường còn nhỏ. Bên cạnh đó, địa hình tỉnh Quảng Nam có 3/4 diện tích là đồi núi nên đa số các đường có độ dốc lớn và quanh co. Một số tuyến đường được xây dựng đã lâu, mật độ phương tiện tham gia giao thông lớn, dẫn đến nhiều đường xuống cấp nghiêm trọng nhưng chưa được đầu tư cải tạo kịp thời, chính điều này là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng tình trạng tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng ta, trong tiến trình phát triển các mặt về kinh tế - xã hội và đô thị, giao thông Quảng Nam luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu: Từ việc tuyên truyền giáo dục pháp luật ATGT, đến đầu tư hạ tầng, phát triển các dịch vụ, nâng cao năng lực quản lý, hệ thống vận tải... Đặc biệt, cơ sở hạ tầng giao thông đã được tập trung đầu tư mạnh mẽ. Nhiều tuyến đường đã được xây dựng mới hoặc nâng cấp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tiêu chuẩn kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, hiện nay giao thông của Quảng Nam đang còn tồn tại rất nhiều bất cập: Hạ tầng lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa tương xứng với tốc độ phát triển của dân số và phương tiện, không đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống và tốc độ đô thị hóa của tỉnh. Hiện nay, phần lớn các tuyến đường bộ ở Quảng Nam còn chật hẹp, chưa đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, dòng phương tiện lưu thông trên đường là dòng hỗn hợp (xe cơ giới, xe thô sơ, người đi bộ) có tốc độ khác nhau nên hay gây ra các xung đột ở các giao cắt. Chất lượng mặt đường, ngoại trừ số tuyến vừa được nâng cấp là tốt, còn nhiều tuyến chưa đảm bảo, đặc biệt ở khu vực ngoại thành. Tình trạng lấn chiếm hành lang bảo vệ ATGT còn tương đối phổ biến nhà dân ở, cửa hàng, đỗ xe. Trong những năm gần đây, nội thị Quảng Nam chỉ phát triển thêm 5 tới 10 km đường mỗi năm. Nhiều trục đường của trung tâm nội thị thiết kế chưa khoa học, không đồng bộ và hệ thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng chưa thật hợp lý. Thêm nữa, hiện tượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông.

Công tác quy họach, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông còn hạn chế so với sự gia tăng của phương tiện giao thông, tình trạng đào đường thường xuyên xảy ra, đặc biệt là các huyện có tuyến Quốc lộ đi qua gây nên TNGT, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB. Hiện nay, cùng với việc đưa vào khai thác sử dụng một số công trình giao thông trọng điểm như: Cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14B, Quốc lộ 24C… thì nhiều dự án xây dựng, nâng cấp các công trình giao thông triển khai và thi công chậm, luôn trong tình trạng vừa thi công, vừa khai thác sử dụng; diện tích vỉa hè, mặt đường bị thu hẹp do việc rào chắn thì công… tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn đến ùn tắc và TNGT. Theo Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Nam thì hiện nay, quỹ đất dành cho giao thông toàn tỉnh chỉ mới đáp ứng được 4% như cầu thực tế. Quỹ đất dành cho giao thông bị thiếu, đường sá chỉ đáp ứng được 40% so với lượng phương tiện tham gia giao thông trong khi đó hệ thống giao thông tĩnh mới chỉ chiếm 6% so với nhu cầu thực tế, việc di chuyển các đơn vị sản xuất, nhà máy xí nghiệp lớn cũng như trường học... ra các khu vực nội thị để giãn mật độ phương tiện tập trung quá nhiều vào một nơi vẫn chưa giải quyết được.

- Đặc điểm các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, số vụ tai nạn GTĐB do người vi phạm quy định (VPQĐ) về tham gia GTĐB gây ra có diễn biến phức tạp về số vụ, số người chết, số người bị thương và tính chất, mức độ thiệt hại, để lại nhiều di chứng đáng tiếc cho người bị hại, có người bị thương tật suốt đời là gánh nặng cho gia đình, người thân và cộng đồng xã hội. Theo thống kê của Phòng CSGT - Công an tỉnh Quảng Nam, thì từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1.348 vụ TNGT đường bộ, làm chết 838 người, bị thương 1.323 người, gây thiệt hại trên 4,1 tỷ đồng. Cụ thể theo từng năm như sau:

Biểu đồ thể hiện số người bị chết và số người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ từ năm 2013 - 2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (đv: người)

(Nguồn: Phòng PC67 - Công an tỉnh Quảng Nam)

Như vậy, qua phân tích số liệu về tình hình TNGT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho thấy: Hầu hết các năm đều giảm về cả 3 tiêu chí, tuy nhiên tình hình TNGT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn xảy ra nhiều với hàng trăm vụ, làm chết hàng trăm người mỗi năm và vẫn đang diễn biến phức tạp. Tình hình trên đã tác động lớn đến công tác đảm TTATGT trên địa bàn tỉnh, trong đó có những vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng gây thiệt hại về người và tài sản, tình trạng uống rượu, bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn vẫn chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm tàng gây mất ổn định về TTATGT trên địa bàn tỉnh.

Qua nghiên cứu, phân tích các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 đến năm 2017, có thể rút ra đặc điểm các vụ tai nạn GTĐB, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, như sau:

Thứ nhất, đặc điểm về tuyến giao thông

Là địa phương có hệ thống GTĐB đa dạng và phức tạp với 7 tuyến quốc lộ, 01 tuyến cao tốc xuyên Bắc - Nam, Đông - Tây với tổng chiều dài là 897km đi qua hầu hết các huyện, thị xã, thành phố làm cho tình hình TTATGT nói chung, số vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện GTĐB xảy ra trên các tuyến Quốc lộ rất phức tạp và nghiêm trọng. Trong 1.348 vụ TNGT đường bộ đã xảy ra thì tuyến giao thông xảy ra TNGT nhiều nhất là quốc lộ với 646 vụ, chiếm tỷ lệ 47,92%; tiếp đến là tuyến giao thông tỉnh lộ với 318 vụ, chiếm tỷ lệ 23,59%; nội thị 172 vụ, chiếm 12,76%; nông thôn 117 vụ, chiếm 8,68%; các tuyến đường khác 95 vụ, chiếm 7,05%.

Hầu hết các vụ tai nạn xảy ra trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố khu vực đồng bằng, 1.159 vụ, chiếm 85,97%; địa bàn các huyện khu vực trung du, miền núi xảy ra 189 vụ, chiếm 14,03%. Trong đó, các huyện, thị xã, thành phố có tuyến Quốc lộ 1A đi qua càng dài thì số vụ TNGT xảy ra càng nhiều như thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, thị xã Điện Bàn, huyện Thăng Bình, xảy ra 868 vụ, chiếm 63,95%.

Đây là địa bàn tập trung dân cư, các khu công nghiệp, các trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, có tuyến quốc lộ đi qua và có nhiều đường giao cắt với các tuyến quốc lộ; là những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình TTATGT nói chung và tình hình TNGT, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua.

Thứ hai, đặc điểm về phương tiện trong các vụ TNGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Qua nghiên cứu các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 - 2017 về phương tiện gây TNGT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như sau:

+ Do ô tô gây ra: 331 vụ, chiếm tỷ lệ 24,55%;

+ Do mô tô gây ra: 934 vụ, chiếm tỷ lệ 69,29%;

+ Do phương tiện thô sơ gây ra: 48 vụ, chiếm tỷ lệ 3,56%;

+ Do người bộ hành gây ra: 4 vụ, chiếm tỷ lệ 0,3%;

+ Do phương tiện khác gây ra: 31 vụ, chiếm tỷ lệ 2,3%.

Biểu đồ thể hiện các phương tiện gây tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 - 2017 (đv: vụ)

(Nguồn: Phòng PC67 - Công an tỉnh Quảng Nam)

Thứ ba, đặc điểm về nguyên nhân tai nạn

Trong tổng số 1348 vụ TNGT xảy ra thì hình thức lỗi chủ yếu trong hành vi của người điều khiển phương tiện gây tai nạn được thể hiện, như sau.

* Vi phạm tốc độ: 75 vụ (chiếm 5,56%).

* Vi phạm các quy định về tránh, vượt: 174 vụ (chiếm, 12,91%).

* Say rượu, bia: 73 vụ (chiếm 3,07%).

* Đi không đúng phần đường, làn đường: 466 vụ, (chiếm 34,57%).

* Chuyển hướng: 163 vụ, (chiếm 12,09%).

* Thiếu quan sát: 237 vụ, (chiếm 17,58%).

* Nguyên nhân khác: 233 vụ (chiếm 17,28%).

Nguồn: Phòng PC67 - Công an tỉnh Quảng Nam

Như vậy, nguyên nhân gây TNGT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua vẫn chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân con người (chiếm tỷ lệ hơn 85%). Trong đó tập trung ở các hành vi người điều khiển phương tiện giao thông không tuân thủ các quy định và luật giao thông. Đây là các lỗi do ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông kém, bao gồm: Lấn trái tim đường, chuyển hướng sai quy định, thiếu tập trung quan sát, vi phạm tốc độ, đi sai làn đường, vượt đèn đỏ, say rượu bia và đua xe trái phép.

Thứ tư, đặc điểm nhân thân người gây TNGT

Thành phần đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB rất đa dạng, không phân biệt thành phần hay địa vị xã hội, thường là những người lái xe chuyên nghiệp; cán bộ công nhân viên chức, học sinh, sinh viên; nhân dân lao động… Qua khảo sát đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thì thấy rằng đối tượng gây án thường thể hiện những đặc điểm nổi bật cơ bản sau đây.

+ Về giới tính: Đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB chủ yếu là nam giới. Trong 200 đối tượng khảo sát thì nam giới là 196 đối tượng, chiếm tỷ lệ 98%; nữ giới là 4 đối tượng, chiếm tỷ lệ 2%.

+ Về độ tuổi: Qua nghiên cứu 200 đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB thì đối tượng ở độ tuổi từ 14 - 18 tuổi có 71 đối tượng, chiếm tỷ lệ 5,27%; từ 18 đến 25 tuổi có 534 đối tượng, chiếm tỷ lệ 39,61%; đối tượng từ 26 tuổi đến 35 tuổi có 331 đối tượng, chiếm tỷ lệ 24,55%; đối tượng ở độ tuổi trên 36 đến 45 tuổi có 256 đối tượng, chiếm tỷ lệ 18,99%; trên 45 tuổi có 156 đối tượng, chiếm tỷ lệ 11,57%. Như vậy, đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB có độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 18 - 35 tuổi, với 734 đối tượng, chiếm 54,45%.

+ Về nghề nghiệp: Các đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB chủ yếu là các đối tượng lái xe chuyên nghiệp với 107 đối tượng, chiếm tỷ lệ 53,5%; các đối tượng là học sinh, sinh viên có 18 đối tượng, chiếm tỷ lệ 9%; đối tượng có nghề nghiệp ổn định có 19 đối tượng, chiếm tỷ lệ 9,5% và đối tượng không nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định có 56 đối tượng, chiếm tỷ lệ 28%.

+ Về trình độ văn hóa: đối tượng có trình độ tiểu học có 60 đối tượng, chiếm tỷ lệ 30%; đối tượng có trình độ trung học cơ sở có 78 đối tượng, chiếm tỷ lệ 39%; đối tượng có trình độ trung học phổ thông có 50 đối tượng, chiếm tỷ lệ 25%; đối tượng có trình độ từ trung cấp trở lên có 12 đối tượng, chiếm tỷ lệ 6%.

Như vậy, qua nghiên cứu đặc điểm của các đối tượng phạm tội trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời thời gian qua, cho thấy: Đối tượng phạm tội chủ yếu là nam giới có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi; là lái xe chuyên nghiệp, với trình độ học vấn là trung học cơ sở. Những đặc điểm về đối tượng phạm tội như đã phân tích ở trên, là một trong những cơ sở để cơ quan chức năng có các biện pháp chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả, nhằm vào các đối tượng trên để từng bước làm giảm TNGT nói chung và tội phạm VPQĐ về tham gia GTĐB nói riêng.

Thứ năm, đặc điểm về thời gian xảy ra tai nạn

Thời gian xảy ra TNGT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua có thể bất kỳ lúc nào, không theo quy luật, tuy nhiên có thể thấy rằng các vụ TNGT chủ yếu xảy ra trong khoảng thời gian sau 12 giờ trưa đến 24 giờ, xảy ra 1.035 vụ, chiếm 76,66%; trong đó cao nhất là khoảng từ 18 giờ đến 24 giờ, xảy ra 565 vụ, chiếm 41,85% tổng số vụ. Khoảng thời gian từ 0 giờ đến 06 giờ ít xảy ra nhất với 99 vụ, chiếm 7,33%.

Qua nghiên cứu cũng cho thấy TNGT gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thường không xảy ra vào thời gian cao điểm vì vào khoảng thời gian này, mật độ các phương tiện giao thông tham gia không đông, người điều khiển phương tiện thường chạy quá tốc độ cho phép hoặc xe chở quá tải, quá khổ là một trong những nguy cơ tiềm ẩn TNGT.

Thứ sáu, đặc điểm dấu vết trong vụ án

Khi vụ TNGT xảy ra, giữa các phương tiện sẽ có sự va chạm mạnh, hoặc giữa các phương tiện giao thông hoặc giữa phương tiện giao thông với chướng ngại vật bên đường nên tại hiện trường vụ TNGT đã xảy ra sẽ để lại rất nhiều dấu vết, được hình thành theo quy luật. Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các dấu vết sẽ giúp cán bộ thụ lý điều tra xác định được quá trình diễn biến thật của vụ án cũng như hành vi vi phạm và lỗi của các bên có liên quan. Qua nghiên cứu các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho thấy những dấu vết phổ biến trong các vụ TNGT:

+ Nhóm dấu vết để lại trên mặt đường nơi xảy ra vụ án, bao gồm: Dấu vết phanh của lốp trượt trên mặt đường của xe cơ giới; dấu vết đường vân lốp; dấu vết là chất bôi trơn như xăng, dầu nhớt… rơi vãi trên mặt đường; dấu vết máu của nạn nhân; dấu vết cà xước khi phương tiện va chạm với mặt đường…

+ Nhóm các dấu vết để lại trên các chướng ngại vật bên đường.

+ Nhóm dấu vết để lại trên phương tiện giao thông có liên quan: Dấu vết là các vết lõm, cà xước, tróc sơn, gãy, vỡ… để lại trên phương tiện giao thông liên quan đến tai nạn; dấu vết máu, lông tóc, nội tạng… của nạn nhân bị văng bắn để lại trên phương tiện hoặc trực tiếp bị phương tiện đâm tạo nên.

+ Nhóm các dấu vết để lại trên thân thể nạn nhân, tư trang hành lý hàng hóa của các bên có liên quan…

Thứ bảy, đặc điểm về thủ đoạn che giấu tội phạm

Đối với các đối tượng trong các vụ án VPQĐ về tham gia GTĐB, các hành vi che dấu thường thể hiện ở một số thủ đoạn như sau:

+ Sau khi gây tai nạn người điều khiển phương tiện thường thay đổi vị trí va chạm ban đầu ở hiện trường. Trường hợp này thường xuất hiện đối với những vụ TNGT do các phương tiện đi ngược chiều đâm va nhau.

+ Đối với những trường hợp vụ gây TNGT rồi bỏ chạy, người lái xe thường có những hành vi như sửa chữa, xóa các dấu vết do sự va chạm vào các phương tiện khác hoặc các đồ vật xung quanh nơi xảy ra tai nạn. Nơi sửa chữa, xóa các dấu vết thường là các ga ra, các trạm bảo hành sửa chữa, các nơi gò hàn kim loại; sơn lại các vết bong tróc...

+ Một số trường hợp sau khi gây tai nạn trên các tuyến đường vắng, không có người phát hiện, người điều khiển phương tiện có thể trực tiếp dừng xe lại và thực hiện các hành vi như: Giả vờ cấp cứu nạn nhân để xóa dấu vết trên thân thể nạn nhân, hoặc có những trường hợp người điều khiển phương tiện dùng luôn xe của mình để chở người bị nạn đi cấp cứu, sau đó lợi dụng sơ hở bỏ chạy hoặc nhờ các phương tiện đi đường khác chở nạn nhân đi, còn mình ở lại xóa dấu vết, làm sai lệch hiện trường hoặc bỏ trốn khỏi hiện trường tai nạn…

+ Ngoài ra, người phạm tội khi làm việc với cơ quan CSĐT thường khai báo gian dối, thường đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan và người bị nạn ngay cả khi nạn nhân đã chết. Nhiều trường hợp, nạn nhân và người phạm tội đều thống nhất khai báo về lỗi để trốn trách trách nhiệm hình sự cho đối tượng, do nạn nhân đã bị mua chuộc. Một số trường hợp đối tượng tìm cách tiếp xúc với ĐTV để mua chuộc để làm sai lệch hồ sơ, gây sức ép với nạn nhân và gia đình họ để giải quyết vụ việc theo hướng thỏa thuận đền bù.

Trên đây là một số đặc điểm cơ bản về GTĐB và tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, nghiên cứu những đặc điểm này giúp lực lượng CSGT của Công an tỉnh Quảng Nam trong việc tổ chức phòng ngừa và điều tra làm rõ các vụ tai nạn giao thông do người VPQĐ về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Nam gây ra, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Bùi Tiến Sỹ

Tạp chí CSND, T32

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác