Thứ Tư, 25/11/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số vấn đề cần trao đổi trong quy định về tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1999

Ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999. Việc ban hành Luật này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình từng bước hoàn thiện pháp luật hình sự của Nhà nước ta, góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của BLHS, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra và đảm bảo hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Với quan điểm chỉ đạo tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều khoản thực sự cần thiết nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đồng thời coi việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 là chủ trương lớn cần làm từng bước, không vội vàng, có chiến lược trước mắt cũng như lâu dài. Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 chỉ chú trọng sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể.

Từ góc độ nhận thức và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự chúng tôi cho rằng hiện nay có nhiều quy định trong BLHS thể hiện rõ sự bất hợp lý, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Thông qua việc nghiên cứu các công trình của các nhà khoa học, từ thực tiễn công tác áp dụng pháp luật hình sự, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề còn vướng mắc, hạn chế cũng như hướng sửa đổi, bổ sung đối với một số quy định trong phần các tội phạm cụ thể của BLHS năm 1999 như sau:

1. Đối với các quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104 BLHS):

- Về tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 104 BLHS :

Theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS thì “Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộc một trong các trường hợp: làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân.

Tuy nhiên, điểm bất hợp lý của điều luật này lại nằm ở khoản 2, 3 Điều 104 BLHS, đó là: “…Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này…”. Như vậy, trong trường hợp này việc chỉ dẫn thêm điểm b khoản 1 là điều không phù hợp vì tỷ lệ thương tật trong trường hợp gây cố tật nhẹ cho nạn nhân theo hướng dẫn dưới 11%. Thiết nghĩ nên quy định lại như sau: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g, h, i, k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm và phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g, h, i, k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Ngoài ra, theo quy định tại điểm 3, mục 9 của Công văn số 190/PYQG - CV thì trong nội dung của kết luận giám định chỉ xác định tỷ lệ % về tổn hại sức khoẻ, không xác nhận cố tật mà chỉ kết luận tổn hại sức khoẻ tạm thời hay vĩnh viễn. Điều này đồng nghĩa với việc các đơn vị pháp y, y tế các địa phương sẽ không kết luận trường hợp nạn nhân bị gây thương tích là bị “cố tật nhẹ”, dẫn đến tình tiết “Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” sẽ không được vận dụng trong thực tiễn điều tra, xử lý tội phạm.

- Về tình tiết “Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 BLHS:

Theo lý luận Luật hình sự thì phạm tội nhiều lần là trường hợp có nhiều hành vi khách quan tương tự giống nhau, cùng xâm phạm vào một quan hệ xã hội, các lần phạm tội đều cấu thành tội phạm, thời gian xảy ra khác nhau, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, việc quy định người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc trường hợp tại điểm c khoản 1 để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội là điều không phù hợp, vì trong trường hợp phạm tội nhiều lần mỗi hành vi đều có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, tức là tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 11% trở lên. Thiết nghĩ nên quy định lại như sau: “Phạm tội liên tục đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”.

2. Đối với quy định về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250 BLHS):

Khoản 1 Điều 250 BLHS quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Điều luật này do chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, nên thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã có những cách hiểu và vận dụng khác nhau. Chẳng hạn:

A trộm cắp chiếc xe honda AirBlade trị giá 38 triệu đồng bán cho B. B biết rõ là xe do A trộm cắp nhưng vẫn mua với giá 13 triệu đồng. A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này có hai cách hiểu sau, cách hiểu thứ nhất: do A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên A không phạm tội. Vì vậy, hành vi tiêu thụ tài sản của B không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cách hiểu thứ hai: tuy về điều kiện chủ thể của tội phạm chưa thoả mãn, nhưng đã thoả mãn về hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản. Do đó, tuy A không phạm tội trộm cắp tài sản, B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

C đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xoá án tích. C trộm cắp chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Seiko trị giá 1.800.000 đồng bán cho D với giá 500.000 đồng. D biết rõ đồng hồ do C trộm cắp nhưng vẫn mua để sử dụng. Trong trường hợp này có hai cách hiểu sau, cách hiểu thứ nhất: mặc dù giá trị tài sản dưới hai triệu đồng, nhưng C đã bị kết án, chưa được xoá án tích về tội chiếm đoạt. Nên C sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do C phạm tội nên D cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cách hiểu thứ hai: vì giá trị tài sản mà C chiếm đoạt dưới hai triệu đồng nên chưa thoả mãn cấu thành của tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, D không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xuất phát từ vướng mắc nêu trên trong thực tế áp dụng pháp luật. Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh tính nguy hiểm cho xã hội giữa các nhóm tội xâm phạm sở hữu và nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng mà chủ yếu là tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chúng tôi đề xuất sửa đổi Điều 250 BLHS như sau: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm pháp mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

3. Đối với quy định về Tội che giấu tội phạm và Tội không tố giác tội phạm (Điều 313, 314 BLHS):

Khoản 1 Điều 313 BLHS quy định: “…Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm…” và khoản 1 Điều 314 BLHS quy định: “...Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm...”. Có thể thấy, theo quy định của điều luật thì một người nếu có hành vi che giấu hoặc không tố giác tội phạm cưỡng đoạt tài sản hoặc cướp giật tài sản thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này thể hiện rõ sự bất cập, cụ thể:

Khoản 1 Điều 135 BLHS quy định: Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Như vậy, tội phạm này xâm phạm không những đến quyền sở hữu về tài sản mà còn có thể xâm phạm đến tính mạng và sức khoẻ của người quản lý tài sản.

Khoản 1 Điều 136 quy định: Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Như vậy, cướp giật tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tội phạm này một mặt xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mặt khác trong những trường hợp nhất định gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của người khác.

Đồng thời, mức hình phạt cao nhất đối với tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp giật tài sản theo quy định của pháp luật là đến hai mươi năm tù và tù chung thân. Điều này phản ánh tính chất mức độ nguy hiểm cao cho xã hội của hành vi mà người phạm tội thực hiện và ấn định mức hình phạt phù hợp với những hành vi ấy.

So với các tội phạm khác được liệt kê tại Điều 313 BLHS, tội phạm cưỡng đoạt tài sản và tội phạm cướp giật tài sản có tính chất, mức độ nguy hiểm tương xứng thậm chí cao hơn, do đó người có hành vi che giấu hoặc không tố giác những tội phạm này lại không phải chịu trách nhiệm hình sự là điều bất hợp lý, thiết nghĩ tại Điều 313 BLHS nên liệt kê thêm tội danh cưỡng đoạt tài sản và cướp giật tài sản.

Tóm lại, trong phạm vi bài viết này chúng tôi phân tích một số điểm bất cập còn tồn tại trong các quy định của BLHS năm 1999, đề xuất một số định hướng hoàn thiện, nhằm xây dựng BLHS trở thành công cụ sắc bén trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và công dân trong điều kiện hiện nay. Xin đưa ra để trao đổi cùng bạn đọc.

Trần Quốc Khánh - Hoàng Minh Đức
Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 11/2012


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác