Thứ Hai, 27/9/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Khởi tố vụ án hình sự - Một số tồn tại, bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện
Hình minh họa: Các đối tượng trong vụ án kinh doanh trái phép xảy ra tại Công ty CP Kinh doanh trang sức vàng quốc tế IG tại cơ quan điều tra.

I. Khái quát chung về khởi tố vụ án hình sự

1/ Khái niệm khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là hình thức văn bản tố tụng, xác định sự việc xảy ra trong thực tế có dấu hiệu của tội phạm. Quyết định này có ý nghĩa rất quan trọng, làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền và người tham gia tố tụng.

Khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án sẽ là cơ sở pháp lí đầu tiên để thực hiện việc điều tra. Các hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp ngăn chặn chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án, trừ một số trường hợp đặc biệt.

2/ Nhiệm vụ của khởi tố vụ án hình sự

Khi tiếp nhận tin tức về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải xác định sự tồn tại của sự việc và đánh giá xem sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định việc có hay không khởi tố vụ án. Qua đó, kịp thời phát hiện tội phạm, hạn chế tối đa tình trạng bỏ lọt tội phạm cũng như bảo đảm được nguyên tắc không truy cứu trách nhiệm hình sự oan đối với người vô tội. Nếu xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án, nếu xác định không có dấu hiệu tội phạm, thì ra quyết định không khởi tố vụ án.

3/ Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án bảo đảm cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, là cơ sở để thực hiện nguyên tắc tránh bỏ lọt tội phạm trong thực tiễn áp dung pháp luật tố tụng hình sự. Chỉ có thông qua những hoạt động kiểm tra, xác minh kịp thời các nguồn tin về tội phạm mới có điều kiện làm rõ một sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không.

Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu các hoạt động điều tra. Đây là giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, phải có quyết định khởi tố vụ án trước, rồi mới được tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số trường hợp đặc biệt.

Khởi tố vụ án cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Do vậy, hoạt động điều tra chỉ tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm mà không còn phải kiểm tra, xác minh để xác định dấu hiệu tội phạm nữa.

Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng và cơ bản để tăng cường pháp chế, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ.

II. Các quy định của pháp luật về vấn đề thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định cho các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác. Cụ thể thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, các đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quân, cơ quan kiểm lâm và các cơ quan khác của lực lượng cảnh sát nhân dân, an ninh nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

1/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra

Thẩm quyền khởi tố của cơ quan điều tra được quy định tại khoản 1 Điều 104 BLTTHS năm 2003 như sau: “Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự”.

Cơ quan cảnh sát điều tra (CQCSĐT) trong Công an nhân dân khởi tố cá vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến chương XXII của Bộ luật hình sự, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân. Trong Cơ quan cảnh sát điều tra thì CQCSĐT công an cấp huyện khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm thuộc thẩm quyền của CQCSĐT khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện; CQCSĐT công an cấp tỉnh khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm thuộc thẩm quyền của CQCSĐT khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQCSĐT công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; CQCSĐT Bộ Công an khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền của CQCSĐT công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp của lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XI, chương XXIV và các tội phạm quy định tại các điều 180, 181, 221, 222, 223, 230, 231, 236, 263, 264, 274, 275 của BLHS năm 1999. Những tội phạm trên đều thuộc thẩm quyền khởi tố vụ án của Cơ quan an ninh điều tra công an cấp tỉnh, còn cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an chỉ khởi tố vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan an ninh điều tra công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó thử trưởng Cơ quan an ninh điều tra các cấp.

Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chuowng XXIII của Bộ luật hình sự khí các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. Các tôi phạm trên sẽ thuộc thẩm quyền khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra hình sự khu vực khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực, thuộc thẩm quyền khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đối với Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng sẽ khởi tố các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Cơ quan an ninh điều tra trong Quân đội nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Việc khởi tố vụ án hình sự đối với những tội phạm trên sẽ thuộc thẩm quyền của Cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương khí các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương; sẽ thuộc thẩm quyền của Cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án thuộc về thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhận dân.

Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương khởi tố vụ án về một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương

2/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của viện kiểm sát

Theo Điều 104 và Điều 109 BLTTHS hiện hành quy định, viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất, Viện kiểm sát khi kiểm sát khởi tố vụ án mà có căn cứ để hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra, cơ quan hải quan, bộ đội biên phòng, cơ quan kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, các cơ quan khác trong công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Thứ hai là trường hợp hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp.

Trong việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của mình. Việc quy định việc thực hiện quyền công tố và kiểm sát không chỉ trong giai đoạn điều tra, xét xử mà hoạt động công tố còn phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng. Khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2003 quy định: “ Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp”.

Ngoài ra, BLTTHS quy định trách nhiệm của viện kiểm sát trong việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự: Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc là còn có tội phạm khác thì viện kiểm sát cũng có quyền ra quyết định thay đổi hay bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hay bổ sung khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra. Điều này sẽ hạn chế việc ra quyết định khởi tố không có căn cứ theo quy định của pháp luật và tránh được việc bỏ lọt tội phạm.

Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, viện kiểm sát chỉ có duy nhất một khả năng đó là xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm thông qua công tác kiểm sát cụ thể này, để từ đó ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự được chính xác.

3/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án

Điều 104 BLTTHS năm 2003 quy định thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án như sau: “ Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”.

Như vậy, trong khi chuẩn bị xét xử nếu Tòa án phát hiện bị can phạm tội mới hoặc có đồng phạm khác, Tòa án không khởi tố vụ án mà trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung.

Thẩm quyền khởi tố vụ án qua việc xét xử tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân

Đơn vị bộ đội biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại chương XI và các điều 119, 120,153, 172, 180, 181, 188, 192, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 263, 264, 273, 274 và 275 của Bộ luật hình sự năm 1999 xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do bộ đội biên phòng quản lý thì có quyền khởi tố vụ án hình sự.

4/ Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Trưởng đồn biên phòng.

Cơ quan hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Điều 153, 154 của BLHS 1999 thì Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục hải quan cửa khẩu có quyền ra quyết định khởi tố vụ án.

Cơ quan kiểm lâm khởi tố vụ án hình sự qua việc thực hiện nhiệm vụ của trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện hành vi phạm tội quy định tại các điều 175, 189, 190, 191, 240 và 272 của BLHS năm 1999

Thẩm quyền khởi tố thuộc về Cục trưởng Cục kiểm lâm, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm, Hạt trưởng, Hạt kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản.

Lực lượng cảnh sát biển khởi tố vụ án khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XI và các điều 153, 154, 172, 183, 194, 195, 196, 212, 213, 221, 223, 230, 231, 232, 236, 238, 273 và 274 của Bộ luật hình sự năm 1999 và xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Việt Nam do lực lượng cảnh sát biển quản lý. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Cục trưởng. Chỉ huy trưởng Vùng, hải đoàn trưởng, Hải đội trưởng và Đội trưởng cảnh sát biển.

Các cơ quan khác của lực lượng cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra quy định tại Điều 11 Pháp lệnh tố chưc điều tra hình sự thì có quyền khởi tố vụ án hình sự.

Các cơ quan khác của lực lượng an ninh trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân.

Thẩm quyền khởi tố thuộc về Cục trưởng Cục an ninh, Trưởng phòng các phòng an ninh ở công an cấp tỉnh.

Cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan diều tra hình sự đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về giám thị trại tạm giam, giạm thị trại giam trong quân đội.

III. Một số tồn tại, bất cập và thực tiễn áp dụng

Có thể nói: BLTTHS năm 2003 đã hoàn thiện một bước đáng kể các quy định thẩm quyền và xác định trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự, trong đó đáng kể nhất là các quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra.

Trong số các cơ quan tiến hành tố tụng, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự chủ yếu quy định cho cơ quan điều tra, còn tòa án và viện kiểm sát chỉ có thẩm quyền khởi tố rất hạn chế. Tuy nhiên, với chức năng chủ yếu là thực hành quyền công tố đối với viện kiểm sát, và chức năng xét xử đối với tòa án, thì việc quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án của các cơ quan này trong BLTTHS vẫn có những bất cập nhất định.

Thứ nhất, Khoản 1, 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003 có đề cập đến quyền khởi tố vụ án hình sự của viện kiểm sát gây mâu thuẫn với quy định về quyền khởi tố vụ án của viện kiểm sát tại Điều 104. Do vậy, quy định này làm giảm tính thống nhất giữa các quy định của BLTTHS về thẩm quyền khởi tố vụ án của viện kiểm sát.

Khoản 1 điều 112 BLTTH quy định quá chung chung về nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát trong khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, cụ thể là: khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự,khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này. Với quy định này, thì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, nếu phát hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm bất kì, viện kiểm sát có trách nhiệm và quyền hạnh ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong khi đó, tại Điều 104 BLTTHS, viện kiểm sát chỉ khởi tố vụ án trong hai trường hợp: (1) khi kiểm sát việc khởi tố nếu xác định quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là không có căn cứ, viện kiểm sát sẽ ra quyết định hủy quyết định không khởi tố đó và tự mình ra quyết định khởi tố vụ án ; (2) khi hội đồng xét xử phát hiện tội phạm, người phạm tội còn bị bỏ lọt cần phải điều tra.

Như vậy, giữa hai Điều 112 và 104 có mâu thuẫn về giới hạn thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự.

Thứ hai, quy định tại khoản 3 Điều 112 BLTTHS về quyền khởi tố vụ án của viện kiểm sát trong trường hợp phát hiện hành vi của điều tra viên có dấu hiệu tội phạm là mâu thuẫn với quy định tại Điều 104 BLTTHS.

Trong quá trình điều tra, điều tra viên có thể có những hành vi vi phạm pháp luật ở những mức dộ khác nhau, và trách nhiệm của viện kiểm sát là phải phát hiện kịp thời và đề nghị xử lí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi vi phạm phát luật của các điều tra viên cũng đều xuât phát từ việc họ là người tiến hành tố tụng trong vụ án hoặc liên quan đến vụ án mà họ đang thụ lí, điều tra làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đùng đắn vụ án mà còn có thể liên quan đến lĩnh vực khác với mục đích khác. Các hành vi này có thể hoàn toàn không liên quan đến vụ án mà viện kiểm sáng đang kiểm sát điều tra. Nếu hành vi của điều tra viên có dấu hiệu của tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì việc điều tra vụ án thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thứ ba, là bất cập trong quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của tòa án, quy định về quyền khởi tố vụ án của hội đồng xét xử hầu như không được thực hiện trong thực tiễn.

Điều 104 BLTTHS năm 2003 có quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của hội đồng xét xử, cho phép có sự lựa chọn hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

Tuy nhiên, với nhiều lí do, hội đồng xét xử hầu như không ra quyết định khởi tố.

Một là do: muốn ra được quyết định khởi tố vụ án hình sự cần phải tiến hành hoạt động kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm. Việc này đòi hỏi phải có thời gian và phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, có thể là những hoạt động rất phức tạp, cộng với việc phải xét xử một khối lượng lớn các vụ án và áp lực phải làm tốt công tác xét xử, hội đồng xét xử ít quan tâm đến vấn đề này là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa, việc quyết định khởi tố cũng rất khó chính xác nếu chưa kiểm tra, xác minh lại những thông tin về tội phạm và người phạm tội mới chỉ được phản ánh qua lời khai của người tham gia tố tụng hoặc những tài liệu đã có trong hồ sơ, thì việc kiểm tra xác minh lại các thông tin này bằng các hoạt động ngoài phiên tòa cũng khiến việc đưa ra quyết định khởi tố vụ án khó khăn hơn. Ngoài ra có thể nói chức năng chính của Tòa án là xét xử nên việc ra quyết định khởi tố vụ án ngay tại phiên tòa gây khó khăn cho chính Tòa án bởi những lí do chuyên môn và nghiệp vụ.

Hai là, quyết định khởi tố vụ án là quyết định không liên quan đến nội dụng vụ án đang xét xử, bởi quyết định này không phải là một nội dung của bản án mà hội đồng xét xử có thể ra tại phiên tòa nhưng vẫn được coi là một quyết định xét xử. Vì vậy, nếu hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án cũng có nghĩa là đã vi phạm giới hạn xét xử và vượt ra ngoài phạm vi quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Ba là, giả sử trường hợp quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử không có căn cứ, Viện kiểm sát kháng nghị lên tòa án cấp trên, tòa án cấp trên phải xét lại quyết định này theo thủ tục luật định. Trường hợp tòa án cấp trên chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát thì quyết định khởi tố vụ án của hội đồng xét xử sẽ bị hủy bỏ. Điều đó tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới uy tín của hội đồng xét xử đã ra quyết định. Ngược lại, nếu tòa án cấp trên không chấp nhận kháng nghị của viện kiểm sát, việc có điều tra vụ án, có truy tố bị can ra tòa án để xét xử hay không vẫn có thể bị viện kiểm sát chi phối bởi hoạt động kiểm sát điều tra và hoạt động thực hành quyền công tố nhà nước.

IV. Kiến nghị hoàn thiện

Để đảm bảo cho các quy định của BLTTHS có tính khả thi cao, nâng cao hiệu quả hoạt động TTHS, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng trong quá trình khởi tố vụ án hình sự nói riêng thì việc hoàn thiện vấn đề thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trong BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn. Từ những điểm bất cập nêu trên, có thể đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, về sự mâu thuẫn giữa khoản 1 Điều 112 và Điều 104 về thẩm quyền của viện kiểm sát đã nêu ở trên, để đảm bảo thống nhất về các trường hợp viện kiểm sát thực hiện quyền khởi tố, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 112 theo hướng viện kiểm sát chỉ khởi tố vụ án đối với các trường hợp quy định tại Điều 104.

Thứ hai, là vấn đề mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 3 Điều 112 BLTTHS về quyền khởi tố vụ án của viện kiểm sát trong trường hợp phát hiện hành vi của điều tra viên có dấu hiệu tội phạm và quy định tại Điều 104 BLTTHS.

Trong trường hợp này, thẩm quyền khởi tố vụ án nên thuộc về cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan có chức năng điều tra, chứ không thuộc về viện kiểm sát các cấp nói chung với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố nhà nước. Vì vậy, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, nếu phát hiện hành vi của điều tra viên có dấu hiệu của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, viện kiểm sát tiến hành tố tụng trong vụ án đó phải yêu cầu Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định khởi tố vụ án, chuyển toàn bộ hồ sơ về sự việc có dấu hiệu tội phạm của điều tra viên cho cơ quan này xem xét, quyết định.

Thứ ba, vấn đề về tính khả thi trong quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Với lí do trên thực tế, theo khảo sát những năm gần đây, chưa có bất kì ghi nhận nào về việc hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Và, để tránh việc thiếu phù hợp giữa quy định này với quy định tại Điều 127 Hiến pháp và Điều 1 Luật tổ chức tòa án nhân dân 2002 về chức năng duy nhất của các tòa án là xét xử. Do vậy, nhằm tạo điều kiện để tòa án tập trung hoàn thành tốt chức năng xét xử thì việc bỏ quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hành sự của hội đồng xét xử trong BLTTHS là điều cần thiết. Theo đó, tại phiên tòa xét xử nếu xác định phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, hội đồng xét xử làm văn bản yêu cầu viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự./.

MINH NHẤT

Nguồn: Cổng thông tin Bộ Tư pháp 


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Xem nhiều nhất