Thứ Ba, 25/6/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số khó khăn trong giảng dạy tiếng Anh tích hợp nội dung chuyên ngành tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Một là, khó khăn đầu tiên xuất phát từ trong quá trình xây dựng Giáo trình tiếng Anh Cảnh sát. Do thực tế hầu hết giảng viên của khoa Ngoại ngữ đều xuất phát từ chuyên ngành ngôn ngữ và giảng dạy ngoại ngữ, mặc dù đội ngũ giảng viên có đủ trình độ và năng lực trong giảng dạy nhưng lại có những hạn chế nhất định trong kiến thức chuyên ngành cảnh sát (các lĩnh vực như Luật Tố tụng hình sự; Khoa học lãnh đạo chỉ huy; điều tra; khám nghiệm hiện trường; công tác nghiệp vụ cơ bản...) Những kiến thức mà đội ngũ giáo viên của khoa lĩnh hội được thường là qua kinh nghiệm làm việc, quá trình tự học hay qua lớp nghiệp vụ 6 tháng. Để có thể hoàn thiện 2 cuốn giáo trình này, ban biên soạn đã phải chỉnh sửa bản thảo nhiều lần và dành rất nhiều thời gian cũng như công sức tự nghiên cứu cũng như thảo luận nhóm. Mặc dù việc tìm kiếm tài liệu tại Thư viện nghiệp vụ, tuy nhiên vẫn cần tổ chức nhiều buổi họp nhóm để cùng chia sẻ, thảo luận về những khó khăn của từng cá nhân thành viên và tìm sự trợ giúp từ những giáo viên ở các khoa nghiệp vụ. Họ là những giáo viên giày dặn kinh nghiệm và trở thành chuyên gia trong các lĩnh vực như Luật, Điều tra... Những lời khuyên và góp ý chỉnh sửa từ các chuyên gia đã giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thiện và đảm bảo được những kiến thức chuyên ngành. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khúc mắc về mặt ngôn ngữ.

Hai là, việc tích hợp khối kiến thức chuyên ngành Cảnh sát với ngoại ngữ là tiếng Anh có những bất cập nhất định. Thực tế là mặc dù đội ngũ giảng viên của Khoa ngoại ngữ đã có trung bình khoảng 10 năm kinh nghiệm làm việc trong môi trường cảnh sát, nhưng để chuyển thể các thuật ngữ sang ngôn ngữ đích là tiếng Anh một cách chính xác đòi hỏi phải có kinh nghiệm và dành rất nhiều thời gian nghiên cứu kiến thức chuyên ngành. Bên cạnh đó, do sự khác biệt giữa công tác của Cảnh sát Việt Nam và Cảnh sát các nước trên thế giới nói chung và nước Anh, Mỹ nói riêng, xảy ra hiện tượng “trống” trong việc tìm các thuật ngữ tương đương của hai ngôn ngữ. Ví dụ như trong kiến thức của nghiệp vụ cơ bản, chúng ta có sử dụng những thuật ngữ như: Xây dựng cơ sở bí mật, xác lập/xác minh hiềm nghi... thì ở tiếng Anh gần như không có thuật ngữ tương ứng với độ sát nghĩa 100%. Điều này dẫn đến một thực tế là cả giảng viên và học viên đều sử dụng tiếng Việt để diễn giải trong quá trình học. Khi học viên có xu hướng sử dụng tiếng Việt với tần suất cao trong lớp học ngoại ngữ họ thường trở nên miễn cưỡng hơn trong việc thực hành và giao tiếp bằng tiếng Anh trong môn học này. Những điều này dẫn đến những khó khăn trong quá trình tiếp thu kiến thức chuyên ngành và thực hành ngôn ngữ trong thực tế dạy và học ở HVCSND.

Ba là, một vấn đề khác cần phải đề cập đó là độ khó trong yêu cầu về mặt ngôn ngữ và kiến thức chuyên ngành. Theo mô hình của Cummins, 1984, khi cả hai yếu tố là kiến thức chuyên ngành và ngôn ngữ đều ở mức yêu cầu cao thì sẽ dẫn đến rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy và học, điều này phần nào sẽ làm giảm mức độ hiệu quả của môn học.

Đối với học viên hệ đào tạo chính quy: Vì hầu hết học viên của hệ học này đều chưa có nhiều kiến thức chuyên ngành và ngôn ngữ có nhiều mặt hạn chế, vấn đề này là rất phổ biến. Mặc khác, có một thực tế cần xem xét kỹ là, tiếng Anh (hay ngoại ngữ nói chung) là môn học bắt buộc và được sắp xếp vào kỳ học đầu tiên trong chương trình trước cả những môn học cơ bản khác thuộc chuyên ngành Cảnh sát (ví dụ như công tác nghiệp vụ cơ bản). Nói cách khác, học viên chưa được chuẩn bị trước về kiến thức chuyên ngành (dạy bằng tiếng Việt) trước khi bước vào môn học tiếng Anh. Kết quả là giờ học tiếng Anh thường xuyên bị gián đoạn khi giảng viên phải giải thích sơ lược về kiến thức chuyên ngành khi gặp những vấn đề khó như: Điều tra, An ninh quốc gia, Luật Tố tụng hình sự, Những hành vi chống phá... Trong quá trình lên lớp, giảng viên thường phải giải thích và phân biệt rõ ý nghĩa của những từ vựng như: Trộm cắp, giết người, ngộ sát, bằng chứng, chứng cứ, điều tra, trinh sát... trước khi đi vào truyền tải kiến thức chuyên ngành về những lĩnh vực này. Điều này không chỉ gây ra khó khăn về mặt thời gian mà còn tạo nên cảm giác "quá tải" ở người học.

Đối với những học viên cao học: Ở những học viên của hệ học này lại gặp một trở ngại xuất phát từ khả năng ngôn ngữ không đồng đều mặc dù kiến thức chuyên ngành của đối tượng này lại rất vững đã gây ra nhiều cản trở. Nhiều cán bộ, chiến sĩ làm việc ở vùng cao của Việt Nam hoặc là chuyên gia trong các lĩnh vực như Phòng chống tội phạm về hình sự, kinh tế, ma tuý, v.v... có chung một nhận định rằng: "Họ hiếm khi sử dụng tiếng Anh trong công việc của mình". Bên cạnh đó, nhiều học viên cho biết, họ hiếm khi có cơ hội học tiếng Anh trước khi học tập tại HVCSND. Với những học viên ở độ tuổi ngoài 40, tỷ lệ ít trong số họ được học tiếng Anh hay ngoại ngữ khi còn ở phổ thông, một vài người thậm chí còn là dân tộc thiểu số ít có cơ hội tiếp cận ngoại ngữ. Khi làm việc với những đối tượng học này, giáo viên thường phải giảng dạy từ những bài học đầu tiên của tiếng Anh (như là bảng chữ cái và cách đọc số) và lượng kiến thức truyền tải thường ở mức độ cơ bản với tốc độ chậm để học viên có thể tiếp nhận từng chút một. Hơn nữa, mặc dù giáo viên thường dành nhiều công sức để khuyến khích, động viên người học, phản hồi lại từ học viên lại không quá tích cực do họ thường ngại thực hành nói, nghe hay viết. Điều này bắt nguồn từ sự thiếu tự tin về mặt ngôn ngữ và sự thiếu động cơ học của học viên.

Bốn là, khó khăn cuối cùng nằm ở việc xây dựng một mô hình chuẩn trong giảng dạy tiếng Anh tích hợp nội dung chuyên ngành như thế nào. Mô hình này được cấu tạo từ 4 thành tố (4Cs: nội dung, giao tiếp, nhận thức và văn hoá - content, communication, cognition and culture). Tuy nhiên, với những đặc điểm phân tích ở trên, rõ ràng là 3 yếu tố nội dung (content), nhận thức (cognition) và giao tiếp (communication) được tập trung nhiều hơn  là văn hoá (culture). Một hạn chế nữa nằm trong văn hoá (culture) khi rõ ràng là những hội thoại được thiết kế để thực hành những tình huống thực tế trong công tác của cảnh sát. Vì thế, người học có cơ hội thực hành để có thể giao tiếp trong những tình huống cụ thể với những đối tượng như nạn nhân, người làm chứng hay những cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên, chính vì sự khác biệt của các tình huống hội thoại thường ngày với công tác cảnh sát, nhiều học viên vẫn có một số hạn chế trong giao tiếp thường ngày.

Mặc dù sẽ tốn nhiều công sức và thời gian để khắc phục hết tất cả những khó khăn nêu trên, đội ngũ giảng viên khoa Ngoại ngữ HVCSND cũng tận dụng những khó khăn này như một cơ hội để nâng cao kỹ năng giảng dạy. Chúng tôi hy vọng, sẽ dần nâng cao mức độ, hiệu quả của những giờ học tiếng Anh để có thể đạt được mục đích chung của quá trình dạy và học. Dưới đây, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm khắc phục những khó khăn nêu trên:

Một là, đội ngũ giảng viên khoa Ngoại ngữ cần chủ động học hỏi, trau dồi kiến thức nghiệp vụ qua việc tự tìm tòi nghiên cứu tài liệu, tham gia những buổi hội thảo khoa học được tổ chức ngay tại HVCSND. Ngoài công tác giảng dạy, giảng viên cần tích cực tổ chức và tham gia những buổi thảo luận chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm với giảng viên các khoa nghiệp vụ.

Hai là, phòng Quản lý Đào tạo cần nghiên cứu một trình tự hợp lý hơn khi sắp xếp thứ tự các môn học trong chương trình để học viên hệ đào tạo chính quy có thể lĩnh hội khối kiến thức chuyên ngành (được giảng dạy bằng tiếng Việt) trước khi học tiếng Anh cảnh sát (có tích hợp nội dung chuyên ngành). Công tác này cũng cần xem xét kỹ lưỡng đến những yếu tố về con người và cơ sở vật chất để đảm bảo được chất lượng dạy và học.

Ba là, nâng cao nhận thức của học viên về tầm quan trọng và cần thiết của ngoại ngữ. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu, có nhận thức đúng mới có động cơ, thái độ đúng trong học tập. Do đó, giảng viên cần thường xuyên quán triệt, giáo dục để mọi đối tượng học nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vai trò của ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng trong học tập và công tác thời kỳ đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế. Cần tăng cường các hình thức, biện pháp giáo dục nhận thức ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ; động viên khuyến khích người học tích cực, chủ động trong tự học, tự rèn và sử dụng ngoại ngữ không chỉ trong lớp mà trong các hoạt động sau giờ học. 

Bốn là, nâng cao ý thức tự học của học viên, đặc biệt là học viên hệ đào tạo chính quy. Đối tượng học này phần lớn mới tốt nghiệp hệ phổ thông, kinh nghiệm tự học hay tự tìm tài liệu còn chưa nhiều. Song song với việc học trên lớp, giảng viên cần khuyến khích, hướng dẫn giúp đỡ học viên tự học thêm ở ký túc, lên thư viện nghiệp vụ tìm đọc tài liệu chuyên ngành để bổ sung những kiến thức cơ bản về những công tác của Cảnh sát. Việc này sẽ giúp chuẩn bị và gia tăng khối kiến thức nền cho học viên trước khi bước vào những giờ học ngoại ngữ; từ đó phần nào giúp gia tăng tính tích cực chủ động của các em trong các hoạt động thực hành ngôn ngữ. 

Nguyễn Thị Hà Thương

Khoa Ngoại ngữ - Học viện CSND

Tài liệu tham khảo:

1. Coyle, D. (2008). CLIL – a pedagogical approach. In N. Van Deusen-Scholl, & N. Hornberger, Encyclopedia of Language and Education, 2nd edition (pp. 97-111). Springer.

2. Coyle, Do, Philip Hood, and David Marsh. CLIL. Cambridge University Press, 2010.

3. Cummins, J. 1984. Bilingualism and Special Education: Issues in Assessment and Pedagogy, Clevedon: Multilingual Matters.


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác